Bài giảng Tây Tiến ngắn gọn dễ hiểu

0
73
VIDEO BÀI GIANG TÂY TIẾN
VIDEO BÀI GIANG TÂY TIẾN

Bài giảng Tây Tiến

ĐỀ BÀI: “Máu thịt và linh hồn của văn học là hình tượng nghệ thuật được xây dựng bằng ngôn từ”. Từ việc tìm hiểu bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng, anh(chị) hãy bình luận ý kiến trên (dựa vào Bài giảng Tây Tiến)

Dàn ý chi tiết:

 

  I. MỞ BÀI:

Quang Dũng là nhà thơ tiêu biểu của thơ ca Việt nam thời kì Kháng chiến chống Pháp. Với một hồn thơ hồn hậu, lãng mạn, phóng khoáng và tài hoa, đặc biệt khi ông viết về người lính tây Tiến và xứ Đoài(Sơn Tây) của mình. Thơ ông giàu chất nhạc, chất họa. “Tây Tiến” là bài thơ đẹp nhất đời thơ Quang Dũng, bài thơ được sáng tác năm 1948 khi nhà thơ chuyển đơn vị, rời xa đoàn binh Tây Tiến. Những kỉ niệm hào hùng của một thời chiến đấu đã qua đọng lại trong kí ức nhà thơ như một kỉ niệm đẹp- kỉ niệm của một thời dấn thân đầy máu lửa.

Liên quan: Giáo Án bài Tây Tiến định hướng phát triển năng lực

Bài thơ tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật của nhà thơ, một bài thơ hay  viết về đề tài người lính Cụ Hồ thời Kháng chiến chống thực dân pháp. Trong một tác phẩm văn học, hình tượng nghệ thuật luôn là yếu tố quan trọng làm nên vẻ đẹp cũng như giá trị của tác phẩm. Hình tượng ấy được thể hiện bằng ngôn từ độc đáo, Tây Tiến cũng thế! Hình tượng thiên nhiên và con người Tây Tiến được Quang dũng thể hiện một cách tài hoa qua ngôn ngữ thơ giàu nhạc tính. Bài thơ này là minh chứng hùng hồn cho đặc trưng cơ bản của văn học : “Máu thịt và linh hồn của văn học là hình tượng nghệ thuật được xây dựng bằng ngôn từ”

II. THÂN BÀI: dựa vào Bài giảng Tây Tiến

1.Cũng như các loại hình nghệ thuật khác, văn học đi vào nhận thức, phản ánh đời sống và thể hiện tư tưởng, tình cảm bằng hình tượng nghệ thuật. Hình tượng là “máu thịt và linh hồn” của tác phẩm. Nó là một cách tư duy, là hình thức mang tính nội dung của văn học- nghệ thuật.

  Hình tượng nghệ thuật không giống với hình tượng âm nhạc, hội họa hay điêu khắc. Sở dĩ có sự khác nhau đó là do mỗi loại hình nghệ thuật sử dụng chất liệu riêng.  Chất liệu của âm nhạc là âm thanh, giai điệu; chất liệu của hội họa là đường nét, màu sắc; chất liệu của điêu khắc là mảng, là khối,…còn của văn học là ngôn từ. Vì vậy, người ta thường nói: “Văn học là nghệ thuật của ngôn từ”.

   Sức sống của tác phẩm văn học suy cho cùng là bắt nguồn từ chính sức sống của ngôn từ. Một thứ ngôn từ đậm chất nghệ thuật, đậm cá tính nghệ thuật, ẩn chứa một sức nặng tư tưởng không cùng những cảm xúc sâu sắc.

2.Tây Tiến là một bài thơ ngôn từ độc đáo. Bài thơ được hình thành và kết tinh từ nỗi nhớ. Một nỗi nhớ da diết về đồng đội, nhớ từng gương mặt, nhớ từng niềm vui, nỗi buồn, những gian khổ, hi sinh, những cung đường đã trải. Bao trùm toàn bài thơ là nỗi nhớ “chơi vơi” da diết, mãnh liệt, làm sống dậy những kỉ niệm chân thật về cuộc đời chiến đấu của binh đoàn Tây Tiến trên núi rừng Tây Bắc- một vùng đất hùng vĩ, dữ dội.

  *Khung cảnh thiên nhiên Tây Bắc hùng vĩ, nên thơ, mơ mộng, và vẻ đẹp người lính Tây Tiến vừa hào hùng, vừa lãng mạn càng trở nên độc đáo, khác thường dưới ngòi bút của QD- ngòi bút tài hoa, giàu chất lãng mạn. Ngôn từ đặc sắc là thành công nổi bật của QD khi khắc hoạn hình tượng người lính Tây Tiến trên cái nền cảnh thiên nhiên núi rừng hùng vĩ, mĩ lệ. Vẻ đẹp ngôn từ trong bài thơ Tây Tiến gồm toàn bộ các hình thức biểu đạt từ nhịp thơ, từ ngữ, hình ảnh, biện pháp tu từ đến cả những yếu tố như thanh, vần, điệu.

Liên quan: Phân tích hình tượng người lính Tây Tiến trong đoạn thơ thứ ba

a/ Quang Dũng đã xây dựng trong bài thơ những hình ảnh thơ độc đáo. Hình ảnh trong bài được sáng tạo bằng nhiều bút pháp khác nhau (hiện thực và lãng mạn) tạo nên những sắc thái thẩm mĩ phong phú. Trong bài thơ có hai loại hình ảnh chính: thiên nhiên núi rừng miền Tây Bắc bộ và người lính Tây Tiến. Ở mỗi loại hình ảnh có hai dạng chính tạo nên sắc thái hình ảnh, bổ sung cho nhau.

Bài giảng Tây Tiến
Bài giảng Tây Tiến

-Thiên nhiên có cái dữ dội, khắc nghiệt, hoang sơ, hùng vĩ và kì bí:

+Câu thơ “Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi” là cảnh người chiến binh phải đi giữa núi rừng mờ sương dày đặc, thăm thẳm lạnh lẽo, che lấp cả dáng người đi trong mờ mịt.

+Đoạn thơ :

“Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

….

Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”

 diễn tả hình ảnh khúc khủy, gập ghềnh của dốc núi cheo leo. Đọc những dòng thơ này, ta thấy trước mắt hình ảnh những ngọn dốc vừa khúc khuỷu,  gập ghềnh, vừa cao ngất trời, lại vừa thẳm thẳm. Bằng những từ ngữ giàu chất tạo hình: “khúc khuỷu”, “thăm thẳm”, “cồn mây”, “súng ngửi trời”, Quang Dũng diễn tả thành công độ cao ngất trời của Tây Bắc. Núi cao chót vót, thăm thẳm, đường lên khúc khuyue, gập ghềnh; người lính leo trên đỉnh núi nhạt nhòa như leo trong mây, mũi súng chếch lên, tựa hồ chạm cả đỉnh trời.

  Cách nói “súng ngửi trời” : vừa diễn tả sự mạnh mẽ, vừa bộc lộ nét tinh nghịch của người línhTây Tiến trẻ trung, sôi nổi, yêu đời.

  Câu thơ : “Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống” như bị bẻ đôi bởi nhịp của nó và sự đối lập: “Ngàn thước lên cao/ ngàn thước xuống”, gợi tả sự hiểm trở của dốc núi miền cao. Bút pháp tương phản gân guốc làm nổi bật tính tạo hình của nó.

   Cuối cùng là câu thơ với những thanh bằng nhẹ nhàng, ngang nhau, gợi mở một không gian xa rộng dưới tầm mắt người lính: Qua mịt mù lớp sương rừng mưa núi, thấp thoáng những ngôi nhà của đồng bào miền cao bồng bềnh trong mưa như trong biển nước: “Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”.

  + Tây Bắc về chiều càng hoang dã, dữ dội. Vẻ bí hiểm chốn rừng thiêng gói gọn trong hai dòng thơ mà độ mở của nó thật sâu xa, vừa gợi tả theo thời gian, vừa mở ra theo chiều không gian. Âm thanh dữ dội của tiếng mưa nguồn thác lũ gầm thét vào mỗi buổi chiều, tiếng cọp gầm trên rừng Mường Hịch mỗi lúc đêm về thật đáng sợ, luôn rình rập và đe dọa sự sống cho đồng bào nơi đây : “Chiều chiều oai linh thác gầm thét- Đêm đem Mường Hịch cọp trêu người”.

-Bên cạnh đó là hình ảnh thiên nhiên thơ mộng, trữ tình:

+Cũng có khi lại êm dịu và say đắm lòng người bởi hình ảnh những bông hoa rừng trắng muốt ẩn hiện trong sương mờ một đêm Mường Lát lạnh giá ở một bản làng miền núi:

“Mường Lát hoa về trong đêm hơi”.

+ Quang Dũng lại nhớ về một Châu Mộc chiều sương. Cảnh sông nước Tây Bắc thơ mộng, hữu tình trong lòng người lính mãi không thể nào quên.

“Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

Có thấy hồn lau nẻo bến bờ

Có nhớ dáng người trên độc mộc

Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”

    Nhớ về một Châu Mộc chiều sương, không gian dòng sông lúc chiều tà mênh mông huyền ảo như giăng như mắc một màu sương. Sông nước bến bờ lặng tờ, hoang dại, những bờ lau phất phơ như cũng có linh hồn.

=> Thiên nhiên miền Tây qua ngòi bút lãng mạn của Quang Dũngđược cảm nhận với vẻ đẹp vừa đa dạng, vừa độc đáo, vừa hùng vĩ, vừa thơ mộng, hoang sơ mà ấm áp. Tác giả đã sử dụng nhiều biện pháp để miêu tả, dựng hình ảnh, có khi tả cận cảnh, dừng lại ở những chi tiết khá cụ thể, có khi lùi xa để bao quát khung cảnh bao la, xa rộng.

Liên quan: Mở bài kết bài bài thơ Tây Tiến chinh phục mọi giám khảo

*Hình ảnh người lính Tây Tiến cũng hiện ra ở nhiều sắc thái, chủ yếu là hào hùng và hào hoa.

-Họ hào hùng ở ý chí, tư thế hiên ngang, vượt lên và coi thường những gian khổ, thiếu thốn, cả sự hi sinh.

“Anh bạn dãi dầu không bước nữa- Gục lên súng mũ bỏ quên đời”.

   Những cuộc hành quân dãi dầu gian khó, sự thiếu thốn đã vắt kiệt sức người lính, không ít người đã ngã xuống. Với biện pháp nói giảm “bỏ quên đời”, không chỉ làm vơi đi cảm giác đau thương bi lụy mà còn làm tăng tính chất thanh thản của cuộc hi sinh vì nước, vì lí tưởng cao đẹp của một thời đại hào hùng, bất khuất. Giọng thơ vừa xót xa, vừa ngang tàng cứng rắn là nét bi tráng của bài thơ Tây Tiến. Từ đây, một hàng trình Tây Tiến đã hiện ra: vất vả, gian khổ và đầy thử thách, nhưng người lính Tây Tiến đã vượt qua với tinh thần trẻ trung, lạc quan, dũng cảm và sự hào hùng.

– Hào hoa ở tâm hồn nhạy cảm trước thiên nhiên đằm thắm tình người và cả những khát khao, mơ mộng. Trong đêm liên hoan văn nghệ có đồng bào địa phương đến góp vui, không khí rộn rã, vui vẻ, cả doanh trại như bừng lên hội đuốc hoa với vũ điệu và âm nhạc của người bản xứ. Những người lính trẻ, tâm hồn lãng mạn như bốc men say, ngất ngây, đa tình. Hai chữ “kìa em” thể hiện cái nhìn vừa ngỡ ngàng, vừa ngạc nhiên, vừa say mê, vừa sung sướng trước vẻ đẹp của thiếu nữ Tây Bắc “xiêm áo tự bao giờ”. Các chàng trai Hà Nội trẻ trung sao không khỏi ngất ngay trước vẻ đẹp say mê, quyến rũ ấy!

   Những ngày chiến đấu ở nơi núi rừng xa xôi, thăm thẳm, Hà Nội với những “dáng kiều thơm”(những thiếu nữ yêu kiều diễm lệ Hà Thành) đã để thương để nhớ trong lòng người lính trẻ, tiếp thêm sức mạnh cho anh trong những ngày tháng chiến đấu và đối mặt với hiểm nguy đang kề cận bên mình.

Liên quan: Phân tích Tây Tiến của nhà thơ Quang Dung hay nhất

b/Ngôn ngữ thơ: Đặc sắc trong ngôn ngữ của Tây Tiến là sự cô đúc tinh tế, sự phối thanh, hỗn trộn của nhiều sắc thái, phong cách với những lớp từ vựng đặc trưng.

-Nhan đề “Tây Tiến” (ban đầu là “Nhớ TT”)

+Không cần đến chữ “nhớ” trong nhan đề bởi nỗi nhớ chan chứa khắp toàn bài (“nhớ về”, “nhớ chơi vơi”, “nhớ ôi”, “có nhớ”,…)- nỗi nhớ là cảm xúc chủ đạo của toàn bài.

+Bài thơ không chỉ có nỗi nhớ mà còn có sự ngợi ca, tôn vinh những chiến sĩ TT

->Tây Tiến khái quát hơn, kiêu hùng hơn như muốn thâu tóm cuộc hành binh trong khung cảnh một bức tranh hoành tráng.

-Đặc sắc ngôn ngữ của bài thơ:

+Có thứ ngôn ngữ trang trọng, mang màu sắc cổ kính- chủ yếu ở đoạn 3, miêu tả trực tiếp hình ảnh người lính và sự hi sinh bi tráng của họ.

+Cả lớp từ ngữ sinh động của tiếng nói hàng ngày, in đậm phong cách người lính và sự hi sinh bi tráng của họ.

+Sự sáng tạo trong ngôn ngữ của bài thơ là những cách kết hợp từ mới lạ, độc đáo, tạo ý nghĩa mới hoặc sắc thái mới cho từ ngữ.

+Sử dụng địa danh cũng là một nét đáng chú ý trong ngôn ngữ của bài thơ. Các địa danh vừa tạo ấn tượng về tính cụ thể, xác thực của bức tranh thiên nhiên và con người, lại vừa tạo được sự hấp dẫn của xứ lạ, phương xa.

-Về giọng thơ:

Cả bài thơ bao trùm trong nỗi nhớ. Nỗi nhớ ấy gọi về nhwuxng kỉ niệm, những trạng thái cảm xúc khác nhau, mỗi trạng thái cảm xúc được diễn tả bằng một giọng điệu phù hợp.

+Đoạn 1:tha thiết, bồi hồi- được gợi lên từ tiếng gọi tha thiết.

+Đoạn 2: chuyển sang giọng thơ tươi vui, hồn nhiên khi tái hiện những kỉ niệm vui vầy, hào hứng về đêm liên hoan văn nghệ ấm tình quân dân, rồi lại bâng khuâng man mác khi gợi về một chiều sương Tây Bắc…

+giọng thơ trở nên trang trọng, rồi lắng xuống khi tưởng nhớ về sự hi sinh của đồng đội.

=> Tây Tiến tiêu biểu cho thơ ca thời chống Pháp, viết về người lính Cụ Hồ, mang sự riêng biệt so với những thi phẩm cùng viết về đề tài ấy.

III. KẾT BÀI: dựa vào Bài giảng Tây Tiến

Văn học là hình tượng nghệ thuật xây dựng bằng ngôn từ. Ý kiến trên thật xác đáng khi nhận xét về đặc trưng ngôn từ của bài thơ Tây tiến- một thi phẩm tiêu biểu thời chống Pháp.

Bài giảng Tây Tiến

Gửi phản hồi