giáo án những đứa con trong gia đình lớp 12 hay nhất

Soạn Những đứa con trong gia đình

giáo án những đứa con trong gia đình giúp HS hiểu được hoàn cảnh sáng tác và nội dung tư tưởng của tác phẩm.

  Tham khảo: Giáo án Nhân vật giao tiếp ngữ văn lớp 12 hay nhất (giáo án những đứa con trong gia đình)

A: Xác định vấn đề cần giải quyết

I. Tên bài học: Những dứa con trong gia đình

II. Hình thức dạy học: Dạy học trên lớp

III. Chuẩn bị của thầy và trò: (giáo án những đứa con trong gia đình)

1/Thầy

-Giáo án

-Phiếu bài tập, trả lời câu hỏi

+Tranh ảnh nhà văn Nguyễn Thi

 + Nhạc về câu hò Nam Bộ

-Bảng phân công nhiệm vụ cho học sinh hoạt động trên lớp

-Bảng giao nhiệm vụ học tập cho học sinh ở nhà

2/Trò

-Đọc trước ngữ liệu trong SGK để trả lời câu hỏi tìm hiểu bài

-Các sản phẩm thực hiện nhiệm vụ học tập ở nhà (do giáo viên giao từ tiết trước)

-Đồ dùng học tập

B: Xác định nội dung – chủ đề bài học

– Phẩm chất tốt đẹp của những con người trong gia đình Việt, nhất là Việt và Chiến.

– Nghệ thuật trần thuật đặc sắc, ngôn ngữ phong phú, góc cạnh đậm chất hiện thực và màu sắc Nam Bộ

C: Mức độ cần đạt

1. Kiến thức (giáo án những đứa con trong gia đình)

a/ Nhận biết: HS nhận biết, nhớ được tên tác giả và hoàn cảnh ra đời của các tác phẩm.

b/ Thông hiểu: HS hiểu và lí giải được hoàn cảnh sáng tác có tác động và chi phối như thế nào tới nội dung tư tưởng của tác phẩm.

c/Vận dụng thấp: Khái quát được đặc điểm phong cách tác giả từ tác phẩm.

d/Vận dụng cao:

– Vận dụng hiểu biết về tác giả, hoàn cảnh ra đời của tác phẩm để phân tích giá trị nội dung, nghệ thuật của tác phẩm .

2. Kĩ năng (giáo án những đứa con trong gia đình)

a/ Biết làm: bài nghị luận về một đoạn trích văn xuôi, về 1 ý kiến bàn về văn học;

b/ Thông thạo: các bước làm bài nghị luận văn học;

3.Thái độ

a/ Hình thành thói quen: đọc hiểu văn bản tự sự

b/ Hình thành tính cách: tự tin , sáng tạo khi tìm hiểu văn bản tự sự

c/Hình thành nhân cách:

-Biết nhận thức được ý nghĩa của truyện hiện đại Việt Nam trong kháng chiến chống Mĩ;

-Biết trân quý những giá trị văn hóa truyền thống mà truyện hiện đại đem lại

-Có ý thức tìm tòi về thể loại, từ ngữ, hình ảnh trong truyện hiện đại Việt Nam .

D : Tổ chức dạy và học (giáo án những đứa con trong gia đình)

1. KHỞI ĐỘNG ( 5 phút)

Hoạt động của Thầy và trò Chuẩn kiến thức kĩ năng  cần đạt, năng lực cần phát triển
– B1:GV giao nhiệm vụ:
+Trình chiếu tranh ảnh, cho hs xem tranh ảnh (CNTT)
+Chuẩn bị bảng lắp ghép
* HS:
+ Nhìn hình đoán tác giả Nguyễn Thi
+ Lắp ghép tác phẩm với tác giả
+ Xem video clip về nhà văn, về kháng chiến chống Mĩ ở miền Nam.
– B2:  HS thực hiện nhiệm vụ
– B3: HS báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ
– B4: GV nhận xét, chuẩn hóa kiến thức và giới thiệu Vào bài: Có một nhà văn sinh ra ở miền Bắc nhưng lại trở thành nhà văn miền Nam. Trước khi hy sinh, ông để lại nhiều tác phẩm có giá trị như tiểu thuyết Người mẹ cầm súng, truyện ngắn Mẹ vắng nhà…Ông chính là nhà văn Nguyễn Thi…
–  Nhận thức được nhiệm vụ cần giải quyết của bài học.  
– Tập trung cao và hợp tác tốt để giải quyết  nhiệm vụ.    
– Có thái độ tích cực, hứng thú.

& 2. HÌNH THÀNH KIẾN THỨC(  70  phút)

Hoạt động của GV – HS Kiến thức cần đạt
– B1: GV giao nhiệm vụ: đọc phần Tiểu dẫn, kết hợp với những hiểu biết của bản thân, giới thiệu những nét chính về cuộc đời Nguyễn Thi.
– Những sáng tác và nêu đặc điểm phong cách, đặc biệt là thế giới nhân vật của nhà văn.
– Giới thiệu khái quát về Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi.
– B2:  HS thực hiện nhiệm vụ
– B3: HS báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ – B4: GV nhận xét, chuẩn hóa kiến thức
– Nguyễn Thi (1928- 1968), bút danh khác là Nguyễn Ngọc Tấn.
– Tên khai sinh là Nguyễn Hoàng Ca, quê ở Hải Hậu – Nam Định.
– Nguyễn Thi sinh ra trong một gia đình nghèo, mồ côi cha từ năm 10 tuổi, mẹ đi bước nữa nên vất vả, tủi cực từ nhỏ.
– Năm 1943, Nguyễn Thi theo người anh vào Sài Gòn.
– Năm 1945, tham gia cách mạng
– Năm 1954, tập kết ra Bắc
– Năm 1962, trở lại chiến trường miền Nam.
– Hi sinh ở mặt trận Sài Gòn trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu thân 1968.      
I. Tìm hiểu chung
1. Tác giả
a. Cuộc đời:      
Nguyễn Đình Thi (1928 – 1968) là một Trong những cây bút văn xuôi hàng đầu của văn nghệ giải phóng miền Nam thời kì chống Mĩ cứu nước. Ông gắn bó sâu sắc với nhân dân Nam Bộ và thực sự trở thành nhà văn của người dân Nam Bộ. Nguyễn Thi cũng là cây bút có năng lực phân tích tâm lí sắc sảo.  
b. Sự nghiệp sáng tác:
– Sáng tác của Nguyễn Thi gồm nhiều thể loại: bút kí, truyện ngắn, tiểu thuyết.
– Ông được tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật năm 2000.
– Tư tưởng và phong cách nghệ thuật: + Nguyễn Thi gắn bó với nhân dân miền Nam và thực sự xứng đáng với danh hiệu: Nhà văn của người dân Nam Bộ.
+ Nhân vật của Nguyễn Thi có cá tính riêng nhưng tất cả đều có những đặc điểm chung “rất Nguyễn Thi”. + Họ là những con người yêu nước mãnh liệt, thủy chung đến cùng với Tổ quốc, căm thù bọn xâm lược, vô cùng gan góc và tinh thần chiến đấu rất cao – những con người dường như sinh ra để đánh giặc.
+ Họ thể hiện được tính chất Nam bộ: thẳng thắn, bộc trực, lạc quan, yêu đời, giàu tình nghĩa.
2. Tác phẩm Những đứa con trong gia đình:
+ Xuất xứ: tác phẩm được viết ngay trong những ngày chiến đấu ác liệt khi ông công tác với tư cách là một nhà văn- chiến sĩ ở Tạp chí Văn nghệ Quân giải phóng (tháng 2 năm 1966). Sau được in trong Truyện và kí, NXB Văn học Giải phóng, 1978.
+ Tóm tắt tác phẩm theo nhân vật chính và cốt truyện.
Thao tác 1: Tìm hiểu  tình huống truyện  
– B1: GV giao nhiệm vụ: tổ chức cho HS tìm hiểu về phương thức trần thuật của tác phẩm bằng cách nêu một số câu hỏi:
– Truyện được trần thuật chủ yếu từ điểm nhìn của nhân vật nào? Theo phương thức nào?
– Cách trần thuật này có tác dụng như thế nào đối với kết cấu truyện và việc khắc họa tính cách nhân vật?
Gợi ý:
– Có mấy phương thức trần thuật trong nghệ thuật viết truyện? Căn cứ vào đâu để nhận biết.
– Truyện được trần thuật theo phương thức nào?
– B2: HS thực hiện nhiệm vụ
– B3: HS báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ
– B4: GV nhận xét, chuẩn hóa kiến thức
Tác dụng và hiệu quả của cách trần thuật trên:     
− Cùng một lúc trình bày được câu chuyện từ ngọn nguồn của nó vừa biểu hiện được tính cách nhân vật, đồng thời những hiện tượng, sự việc bình thường cũng trở nên mới mẻ, hấp dẫn.   
− Tăng màu sắc trữ tình đậm đà, tự nhiên và tạo điều kiện cho tác giả nhập sâu vào thế giới nội tâm nhân vật để dẫn dắt câu chuyện.     
− Cốt truyện linh hoạt, không phụ thuộc vào trật tự không gian, thời gian, từ những chi tiết ngẫu nhiên của hiện thực chiến trường mà gợi dòng hồi tưởng, liên tưởng đến quá khứ khi gần, khi xa, từ chuyện ngày sang chuyện khác rồi lại trở về hiện tại.    
Thao tác 2: Tìm hiểu truyền thống của một gia đình Nam Bộ.
– B1: GV giao nhiệm vụ:
Tác phẩm kể chuyện một gia đình nông dân Nam Bộ, truyền thống nào đã gắn bó những con người trong gia đình với nhau?
+  Nhân vật chú Năm có vị trí nào trong gia đình và có vai trò gì trong truyện?
+ Nhân vật chú Năm được xây dựng với những nét tính cách nào? ( So sánh với nhân vật Cụ Mết trong Rừng xà nu)
+ Nhân vật má Việt được xây dựng với những nét tính cách nào?  
– B2: HS thực hiện nhiệm vụ
– B3: HS báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ
– B4: GV nhận xét, chuẩn hóa kiến thức    
– Nhân vật chú Năm trong truyện: người thân lớn tuổi duy nhất còn lại trong gia đình, từng bôn ba khắp chân trời góc biển, người cưu mang đùm bọc các cháu khi anh chị Tư Năng − cha mẹ Chiến – Việt hi sinh.     
− Người đề cao truyền thống gia đình để giáo dục con cháu bằng việc cần mẫn ghi cuốn sổ gia đình (một thứ gia phả đặc biệt) ghi chép tội ác của giặc và chiến công của gia đình, dòng họ theo từng ngày từng tháng, từng năm.     
− Người lao động chất phác nhưng giàu tình cảm và có tâm hồn nghệ sĩ thể hiện qua việc chú thích hò. Tiếng hò khàn đục, tức như tiếng gà gáy nhưng đó là tâm hồn và khát vọng, tâm tư và tình cảm của chú như hiệu lệnh, như lời thề dữ dội, nổi lên giữa ban ngày trong ánh nắng chói chang.     
− Câu nói của chú trong buổi thanh niên nam nữ ghi tên tòng quân: Việc lớn ta tính theo việc lớn. Việc thỏn mỏn trong nhà, tôi thu xếp khắc xong:không chỉ nói lên tính mộc mạc, bộc trực của ông già nông dân mà còn nói lên tình cảm tự nguyện, hết   lòng hết sức đóng góp sức người cho cách mạng của người nông dân Nam Bộ.  
− So với hình tượng nhân vật cụ Mết – già làng Xô Man Tây Nguyên, cây xà nu cổ thụ, người kể chuyện đồng khởi của người Strá với nhân vật chú Năm cũng có những điểm chung: đó là tính hào hiệp, khảng khái, bộc trực, cuốn sử sống, người nối giữ truyền thống… nhưng một đằng thì đại diện cho một buôn làng, đằng kia thì cho một gia đình, dòng họ, một đằng gây ấn tượng ở câu chuyện trầm hùng, bi tráng trong đêm rừng bên bếp lửa xà nu, đằng kia là cuốn gia phả trứ danh và điệu hò khàn đục giữa ban ngày.
– Nhân vật má Việt: Đó là điển hình cho   người  mẹ miền Nam,  người phụ nữ  Nam Bộ anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang được khắc hoạ đậm nét và độc đáo dưới ngòi bút Nguyễn Thi.     
− Người thiếu nữ lao động nghèo, cứng cỏi. − Người vợ thủy chung.
− Người mẹ đảm đang việc nhà, việc nước, kiên cường, gan góc trong việc dẫn con đi đòi đầu chồng, khi bị doạ bắn, khi bươn chải làm nuôi con mau lớn;     
− Ngã xuống bất ngờ vì miếng pháo khi vừa nhặt trái cà nông lép còn nóng.     
-Trong đêm trước buổi tòng quân, có lẽ linh hồn mẹ đã hiện về trong những tính toán lo toan của cô con gái.  
Thao tác 3: Hướng dẫn HS phân tích và so sánh tính cách các nhân vật để làm rõ sự tiếp nối truyền thống gia đình của những người con.
– B1:GV giao nhiệm vụ:
Tổ chức 4 nhóm cùng thảo luận một nội dung: Phân tích đặc điểm nhân vật Việt.
– Việt có những nét nào của cậu con trai mới lớn?
– Đêm trước ngày lên đường, thái độ của Việt khác với chị như thế nào?
– Cách thương chị của Việt có gì đặc biệt? Ngoài tính trẻ con, hồn nhiên, Việt còn có vẻ đẹp nào nữa ?
– Nghệ thuật thể hiện nhân vật Việt?
– B2:  HS thực hiện nhiệm vụ
– B3: HS báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ
– B4: GV nhận xét, chuẩn hóa kiến thức                                          – Tìm hiểu nhận vật Chiến
B1:GV giao nhiệm vụ:
– GV tổ chức thảo luận cặp đôi
+ Chiến có những nét nào giống người mẹ của mình?  
+ Nét khác biệt của Chiến so với người mẹ là gì?  
+ Nét chung tính cách các nhân vật Việt và Chiến để làm rõ sự tiếp nối truyền thống gia đình của những người con.  
– B2:  HS thực hiện nhiệm vụ
– B3: HS báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ
– B4: GV nhận xét, chuẩn hóa kiến thức                                                                                                
– B1: GV giao nhiệm vụ: phát biểu cảm nhận về hình ảnh chị em, Việt và Chiến khiêng bàn thờ ba má sang gởi chú Năm
– B2:  HS thực hiện nhiệm vụ
– B3: HS báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ
– B4: GV nhận xét, chuẩn hóa kiến thức                    
II. Đọc – hiểu (Soạn Những đứa con trong gia đình)
1. Tình huống truyện.      
Đây là câu chuyện của gia đình anh giải phóng quân tên Việt. Nhân vật này rơi vào một tình huống đặc biệt: trong một trận đánh, bị thương nặng phải nằm lại giữa chiến trường. Anh nhiều lần ngất đi tỉnh lại, tỉnh rồi lại ngất. Truyện được kể theo dòng nội tâm của nhân vật khi đứt (ngất đi) khi nối (tỉnh lại). Tóm lại, tình huống truyện dẫn đến một cách trần thuật riêng của thiên truyện theo dòng ý thức của nhân vật.
2. Phương thức trần thuật của tác phẩm.
+ Căn cứ vào ngôn ngữ của nhân vật trong truyện:
– Phương thức thứ nhất: Nhân vật truyện là đối tượng thuật, kể nên thuộc ngôi thứ ba.
– Phương thức thứ hai: Nhân vật tự kể chuyện mình nên thuộc ngôi thứ nhất.
– Phương thức thứ ba: Người trần thuật thuộc ngôi thứ ba nhưng lời kể lại phỏng theo quan điểm, ngôn ngữ, giọng điệu của nhân vật.
+ Truyện Những đứa con trong gia đình được trần thuật theo phương thức thứ 3. Nghĩa là của người trần thuật tự giấu mình nhưng cách nhìn và lời kể lại theo giọng điệu của nhân vật.
+ Lối trần thuật này có hai tác dụng về mặt nghệ thuật:
– Câu chuyện vừa được thuật, kể cùng một lúc tính cách nhân vật cũng được khắc họa.
– Câu chuyện dù không có gì đặc sắc cũng trở nên mới mẻ, hấp dẫn vì được kể qua con mắt, tấm lòng và bằng ngôn ngữ, giọng điệu riêng của nhân vật. Nhà văn phải thành thạo tâm lí và ngôn ngữ nhân vật mới có thể trần thuật theo phương thức này.
3. Truyền thống của một gia đình Nam Bộ:
a. Đặc điểm chung của các thành viên trong gia đình:
– Có truyền thống yêu nước và căm thù giặc sâu sắc.
– Gan góc, dũng cảm, khao khát được chiến đấu giết giặc.
– Giàu tình nghĩa, thuỷ chung son sắt với quê hương và cách mạng.
b. Đặc điểm tính cách riêng:
– Nhân vật chú Năm:
+ Người thân lớn tuổi duy nhất còn lại trong gia đình, từng bôn ba khắp nơi, cưu mang các cháu khi ba mẹ Việt – Chiến hi sinh.
+ Người đề cao truyền thống gia đình, hay kể sự tích của gia đình để giáo dục con cháu, cần mẫn ghi chép trong cuốn sổ gia đình tội ác của giặc và chiến công của các thành viên .
+ Người lao động chất phác nhưng giàu tình cảm và có tâm hồn nghệ sĩ (thích câu hò, tiếng sáo). Tiếng hò “khàn đục, tức như tiếng gà gáy” nhưng đó là tâm tư, khát vọng của tâm hồn ông.
+ Tự nguyện, hết lòng góp sức người cho cách mạng khi thu xếp cho cả Việt và Chiến lên đường tòng quân.
=> Trong dòng sông gia đình, chú Năm là thượng nguồn, là kết tinh đầy đủ những nét truyền thống.                                                        
– Nhân vật má Việt:  
+ Rất gan góc khi dẫn con đi đòi đầu chồng, hiên ngang đối đáp với bọn giặc, không run sợ trước sự dọa bắn, có lòng căm thù giặc sâu sắc.  
+ Rất mực thương chồng thương con, đảm đang, tháo vát, cuộc đời chồng chất đau thương nhưng nén chặt tất cả để nuôi con và đánh giặc.  
+ Ngã xuống trong một cuộc đấu tranh nhưng trái cà – nông lép vẫ còn nóng hổi trong rổ; linh hồn luôn sống mãi, bất tử trong lòng các con mình. Là Điển hình cho người mẹ miền Nam luôn anh dũng, bất khuất, trung hậu, đảm đang.              
3. Nhân vật Việt
a. Có nét riêng của cậu con trai mới lớn, tính tình còn trẻ con, ngây thơ, hồn nhiên,  hiếu động:   
– Chiến hay nhường nhịn bao nhiêu thì Việt tranh giành phần hơn với chị bấy nhiêu: đi bắt ếch, giết giặc, đi bộ đội  
– Thích đi câu cá, bắn chim, đến khi đi bộ đội vẫn còn đem theo ná thun trong túi.   
– Đêm trước ngày lên đường: Trong khi chị đang toan tính, thu xếp chu đáo mọi việc (từ út em, nhà cửa, ruộng nương đến nơi gởi bàn thờ má), bàn bạc trang nghiêm thì Việt vo lo vô nghĩ:
+ Vô tư “lăn kềnh ra ván cười khì khì”
+ vừa nghe vừa “chụp một con đom đóm úp trong lòng tay”
+ ngủ quên lúc nào không biết  
–  Cách thương chị của Việt cũng rất trẻ con: “giấu chị như giấu của riêng” vì sợ mất chị trước những lời đùa của anh em.  
–  Bị thương nằm lại chiến trường: sợ ma cụt đầu, khi gặp lại anh em thì như thằng Út ở nhà “khóc đó rồi cười đó”
b. Một chiến sĩ có tính cách anh hùng, tinh thần chiến đấu gan dạ, dũng cảm, kiên cường:
– Còn bé tí: dám xông thẳng vào đá thằng giặc đã giết hại cha mình
– Lớn lên: nhất quyết đòi đi tòng quân để trả thù cho ba má
– Khi xông trận: chiến đấu rất dũng cảm, dùng pháo tiêu diệt được một xe bọc thép của giặc
– Khi bị trọng thương: một mình giữa chiến trường, mặt không nhìn thấy gì, toàn thân rã ròi, rõ máu nhưng vẫn trong tư thế quyết chiến tiêu diệt giặc. “Tao sẽ chờ mày … Mày có bắn tao thi tao cũng bắn được mày … Mày chỉ giỏi giết gia đình tao, còn đối với tao thì mày là thằng chạy”         
Là Kế tục truyền thống gia đình nhưng Việt và Chiến còn tiến xa hơn, lập nhiều chiến công mới hiển hách.
4. Nhân vật Chiến:
a. Là một cô gái mới lớn, tính khí vẫn còn nét trẻ con nhưng cũng là một người chị biết nhường em, biết lo toan, tháo vát;
–  Là một cô gái vừa mới lớn nên tính khí còn rất “trẻ con”
– Là một người chị biết nhường nhịn em, biết lo toan, đảm đang, tháo vát.
b.  Vừa có những điểm giống mẹ, vừa có những nét riêng. Chiến căm thù giặc sâu sắc, gan góc, dũng cảm, lập được nhiều chiến công.
*Chiến có những nét giống mẹ:
Mang vóc dáng của má: “hai bắp tay tròn vo sạm đỏ màu cháy nắng… thân người to và chắc nịch”.
– Đặc biệt giống má ở cái đêm sắp xa nhà đi bộ đội:
+ Biết lo liệu, toan tính mọi việc nhà (“nói nghe in như má vậy”), đảm đang, tháo vát
+ Hình ảnh người mẹ như bao bọc lấy Chiến, từ cái lối nằm với thằng út em trên giường ở trong buồng nói với ra đến lối hứ một cái “cóc” rồi trở mình. 
+ Chính Chiến cũng thấy mình trong đêm ấy đang hòa vào trong mẹ: “Tao cũng đã lựa ý nếu má còn sống chắc má tính vậy, nên tao cũng tính vậy”.
* Nét khác biệt so với người mẹ:
– Trẻ trung, thích làm duyên làm dáng
– Được trực tiếp cầm súng đánh giặc để trả thù nhà, thực hiện lời thề như dao chém: “Đã là thân con gái ra đi thì tao chỉ có một câu: Nếu giặc còn thì tao mất”. Và Đó là vẻ đẹp của con người sinh ra để gánh vác, để chống chọi, để chịu đựng để chiến đấu và chiến thắng.
5. Nét tính cách chung của hai chị em:
– Hai chị em cùng sinh ra trong một gia đình chịu nhiều mất mát đau thương (cùng chứng kiến cái chết đau thương của ba và má).
– Hai chị em có chung mối thù với bọn xâm lược. Tuy còn nhỏ tuổi, chí căm thù đã thôi thúc hai chị em cùng một ý nghĩ: phải trả thù cho ba má, và có cùng nguyện vọng: được cầm súng đánh giặc.
– Tình yêu thương là vẻ đẹp tâm hồn của hai chị em. Tình cảm này được thể hiện sâu sắc và cảm động nhất trong cái đêm chị em giành nhau ghi tên tòng quân và sáng hôm sau trước khi lên đường nhập ngũ cùng khiêng bàn thờ má sang nhà chú Năm
– Cả hai chị em đều là những chiến sĩ gan góc dũng cảm. Đánh giặc là niềm say mê lớn nhất của hai chị em Việt và Chiến cũng là của tuổi trẻ miền Nam trong những năm tháng ấy: “Hạnh phúc của tuổi trẻ là trên trận tuyến đánh quân thù”.
– Hai chị em Việt đều có những nét rất ngây thơ thậm chí có phần trẻ con (giành nhau bắt ếch nhiều hay ít, giành nhau thành tích bắn tàu chiến giặc và giành nhau ghi tên tòng quân).
6. Hình ảnh chị em Việt khiêng bàn thờ ba má sang gởi chú Năm.
+ Chỗ hay nhất của đoạn văn là không khí thiêng liêng, nó hoán cải cả cảnh vật lẫn con người.
+ Không khí thiêng liêng đã biến Việt thành người lớn. Lần đầu tiên Việt thấy rõ lòng mình (thương chị lạ, mối thù thằng Mĩ thì có thể rờ thấy vì nó đang đè nặng trên vai).
+ Hình ảnh có ý nghĩa tượng trưng thể hiện sự trưởng thành của hai chị em có thể gánh vác việc gia đình và viết tiếp khúc sông của mình trong dòng sông truyền thống gia đình. Hơn thế nữa, thế hệ sau cứng cáp, trưởng thành và có thể đi xa hơn.
– B1: GV giao nhiệm vụ
Nội dung? đánh giá thành công nghệ thuật truyện?
– B2:  HS thực hiện nhiệm vụ
– B3: HS báocáo kết quả thực hiện nhiệm vụ
– B4: GV nhận xét, chuẩn hóa kiến thức Chất sử thi của truyện:
+ thể hiện qua cuốn sổ của gia đình với truyền thống yêu nước, căm thù giặc, thủy chung son sắt với quê hương.
+ Cuốn sổ là lịch sử gia đình mà qua đó thấy lịch sử của một đất nước, một dân tộc trong cuộc chiến chống Mĩ.
+ Số phận của những đứa con, những thành viên trong gia đình cũng là số phận của nhân dân miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mĩ khốc liệt.
+ Truyện của một gia đình dài như dòng sông còn nối tiếp. “Trăm dòng sông đổ vào một biển, con sông của gia đình ta cũng chảy về biển, mà biển thì rộng lắm…, rộng bằng cả nước ta và ra ngoài cả nước ta…”. Truyện kể về một dòng sông nhưng nhà văn muốn ta nghĩ đến biển cả. Truyện về một gia đình nhưng ta lại cảm nhận được cả một Tổ quốc đang hào hùng chiến đấu bằng sức mạnh sinh ra từ những đau thương.
+ Mỗi nhân vật trong truyện đều tiêu biểu cho truyền thống, đều gánh vác trên vai trách nhiệm với gia đình, với Tổ quốc trong cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại.
III/ Tổng kết (Soạn Những đứa con trong gia đình)
1. Nội dung:           
Qua câu chuyện về những con người trong một gia đình nông dân Nam Bộ có truyền thống yêu nước, căm thù giặc, thủy chung với quê hương, với CM, nhà văn khẳng định: sự hòa quyện giữa tình cảm gia đình và tình yêu nước; giữa truyền thống gia đình và truyền thống dân tộc đã tạo nên sức mạnh tinh thần to lớn của con người VN, dân tộc VN trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
2. Nghệ thuật:            
– Tình huống truyện: Việt – một chiến sĩ Quân giải phóng-bị thương phải nằm lại chiến trường. Truyện kể theo dòng nội tâm của Việt khi liền mạch(lúc tỉnh), khi gián đoạn(lúc ngất) của người trong cuộc làm câu chuyện trở nên chân thật hơn; có thể thay đổi đối tượng, không gian, thời gian, đan xen tự sự và trữ tình.  
– Chi tiết được chọn lọc vừa cụ thể vừa giàu ý nghĩa, gây ấn tượng mạnh. Ngôn ngữ bình dị, phong phú, giàu giá trị tạo hình và đậm sắc thái Nam bộ.          
– Giọng văn chân thật, tự nhiên, nhiều đoạn gây xúc động mạnh…
– Truyện đậm chất sử thi  

3.LUYỆN TẬP (giáo án những đứa con trong gia đình) ( 5 phút)

Hoạt động của GV – HSKiến thức cần đạt
-B1: GV giao nhiệm vụ:
Câu hỏi 1: Chi tiết nào sau đây không đúng với nhân vật Việt trong truyện?
a. Thương chị theo kiểu rất người lớn.
b. Thích giành phần hơn với chị.
c. Hiếu động.
d. Đi đánh trận vẫn mang theo cả súng cao su.
Câu hỏi 2: Nhân vật Việt được đồng đội tìm lại khi đang ở trong trạng thái như thế nào?
a. Bị thương và ngất lịm.
b. Vẫn ở tư thế sẵn sàng chiến đấu.
c. Vẫn tỉnh nhưng không còn khả năng cử động.
d. Đang nửa tỉnh nửa mơ.     
Câu hỏi 3: Cảm hứng bao trùm tác phẩm “Những đứa con trong gia đình” là gì?
a. Lãng mạn.
b. Bi thương.
c. Bi tráng.
d. Hào hùng.
– B2: HS thực hiện nhiệm vụ
– B3: HS báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ
– B4: GV nhận xét, chuẩn hóa kiến thức
[1]=’a’ [2]=’b’ [3]=’c’  

4.VẬN DỤNG (giáo án những đứa con trong gia đình)( 5 phút)

Hoạt động của GV – HS Kiến thức cần đạt
-B1: GV giao nhiệm vụ:
“Một loạt đạn súng lớn văng vẳng dội đến ầm ĩ trên ngọn cây…Kèn xung phong của chúng ta đã nổi lên. Lựu đạn ta đang nổ rộ…” (Trích Những đứa con trong gia đình – Nguyễn Thi)
1. Đoạn văn trên được viết theo phương thức nào là chính?
2. Nội dung chủ yếu của đoạn văn bản là gì ?
3. Xác định phép tu từ so sánh trong văn bản. Nêu hiệu quả nghệ thuật của phép tu từ đó ?
4. Tại sao Tiếng súng nghe thân thiết và vui lạ đối với nhân vật Việt ?
– B2:  HS thực hiện nhiệm vụ
– B3: HS báocáo kết quả thực hiện nhiệm vụ
– B4: GV nhận xét, chuẩn hóa kiến thức  
Câu 1 : Đoạn văn được viết theo phương thức tự sự là chính.
Câu 2 : Đoạn văn kể chuyện nhân vật Việt bị thương nặng trên chiến trường. Một lần tỉnh lại, Việt nghe tiếng súng của ta, nhớ về đồng đội và quyết tâm tìm về đơn vị.
Câu 3 : Phép tu từ so sánh trong văn bản được thể hiện qua câu văn : Súng lớn và súng nhỏ quyện vào nhau như tiếng mõ và tiếng trống đình đám dậy trời dậy đất hồi Đồng khởi. Hiệu quả nghệ thuật: đem tiếng súng lớn, súng nhỏ của ta so sánh với tiếng mõ, tiếng trống, nhà văn gợi lại âm thanh quen thuộc đã từng gắn bó với nhân vật Việt khi anh đang cô độc và bị thương nặng giữa chiến trường, đồng thời là sống dậy tinh thần quật khởi của đồng bào miền Nam trong những ngày đánh Mỹ. Qua đó, ta thấy được tình yêu quê hương, ý chí, nghị lực phi thường của nhân vật Việt.
Câu 4 : Đối với nhân vật Việt,  tiếng súng nghe thân thiết và vui lạ . Bởi vì, đó là tiếng súng của đồng đội. Nó gọi Việt tới phía của sự sống. Tiếng súng đồng đội gọi chiến đấu đã tiếp thêm sức mạnh mới để gọi Việt đến.

5. MỞ RỘNG,SÁNG TẠO ( 5 phút) (giáo án những đứa con trong gia đình)

Hoạt động của GV – HS Kiến thức cần đạt
-B1: GV giao nhiệm vụ:
+ Vẽ bản đồ tư duy bài học
+ Từ văn bản, viết đoạn văn ngắn bày tỏ suy nghĩ về ý chí, nghị lực của tuổi trẻ hôm nay.
– B2: HS thực hiện nhiệm vụ
– B3: HS báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ
– B4: GV nhận xét, chuẩn hóa kiến thức  
+ Vẽ đúng bản đồ tư duy
+ Đoạn văn cần đảm bảo các ý:
– Dẫn ý bằng tình huống nhân vật Việt dù bị thương nặng trên chiến trường, ngất đi tỉnh lại nhiều lần như vẫn cố gắng hướng về nơi có tiếng súng để sẵn sàng chiến đấu và tìm về với đồng đội.
-Ý chí, nghị lực của tuổi trẻ là gì? Biểu hiện?
– Ý nghĩa tác dụng của ý chí, nghị lực?
– Phê phán một bộ phận thanh niên có thái độ nản chí, lùi bước trước thử thách khó khăn và nêu hậu quả.
– Bài học nhận thức và hành động?

Xem thêm: giáo án bài vợ nhặt Ngữ văn lớp 12 chi tiết nhất (giáo án những đứa con trong gia đình)

Hãy bình luận đầu tiên

Để lại một phản hồi

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiện thị công khai.


*