Giáo án bồi dướng học sinh giỏi lớp 10 đầy đủ hay nhất

0
128
Giáo án bồi dướng học sinh giỏi lớp 10
Giáo án bồi dướng học sinh giỏi lớp 10

Giáo án bồi dướng học sinh giỏi lớp 1o đầy đủ hay nhất sẽ giúp cho các bạn học sinh lớp 10 trang đủ đầy đủ kiến thức để bước vào kì thi học sinh giỏi một cách tự tin và chắc thắng nhất.

Thông tin Giáo án bồi dướng học sinh giỏi lớp 1o đầy đủ hay nhất

Giáo án bồi dướng học sinh giỏi lớp 10: ĐỀ SỐ 1

Kì thi chọn HSG các trường THPT chuyên vùng Duyên hải & Đồng bằng Bắc Bộ, ĐỀ THI CHÍNH THỨC, môn NGỮ VĂN 10, năm học 2011 – 2012
Thời gian làm bài 180 phút, không kể thời gian giao đề

 

 

Câu 1 (8 điểm):

Anh (chị) hãy viết một bài văn với chủ đề: “Thế giới cần sự tri ân”. 

Câu 2 (12 điểm):

Có ý kiến cho rằng: “Truyện cổ tích không chỉ dạy ta biết yêu, biết ghét mà còn dạy ta biết ước mơ”. Bằng những hiểu biết về truyện cổ tích đã học và đã đọc, anh (chị) hãy bày tỏ suy nghĩ của mình về nhận định trên.

Đọc thêm: 10 đoạn văn nghị luận xã hội 200 chữ hay nhất

——– HẾT ——–

ĐÁP ÁN tài liệu bồi dướng học sinh giỏi lớp 10: ĐỀ SỐ 1

Câu 1 (8 điểm):
I. Yêu cầu về kĩ năng:
Thí sinh biết cách làm bài nghị luận xã hội; bài viết có bố cục rõ ràng, lập luận và dẫn chứng thuyết phục; diễn đạt mạch lạc.
II. Yêu cầu về kiến thức:
Thí sinh có thể bộc lộ quan điểm của bản thân theo những cách khác nhau nhưng cần chân thành, hợp lí và thuyết phục. Về cơ bản, cần đạt được một số ý chính sau:
1. Giải thích (1,5 đ)
– Tri ân: ( tri: biết, ghi nhớ; ân: ơn ): bản chất của tri ân là lòng biết ơn. (0,5 đ)
– Trong cuộc sống, sự tri ân được biểu hiện vô cùng phong phú (nêu một vài biểu hiện) (0,5 đ)
– Chủ đề đặt ra cho bài viết: khẳng định thái độ biết ơn chân thành đối với những ân nghĩa, ân tình mà mình được nhận là nét đẹp trong sự ứng xử giữa con người với con người mà toàn nhân loại cần hướng tới. (0,5 đ)
2. Bình luận:(5,5 đ)
– Vì sao “thế giới cần sự tri ân”? (4,5 đ) Sau đây là một hướng triển khai:
+ Con người không phải là cá thể riêng lẻ mà luôn sống trong cộng đồng, trong mối quan hệ với mọi người, với xã hội. Trong cuộc sống ấy, mỗi người đều được nhận từ cuộc đời, từ người khác những điều tốt đẹp. Trân trọng và biết ơn những điều tốt đẹp được nhận là thái độ sống của con người chân chính. Nhờ có lòng tri ân, con người xích lại gần nhau và những điều tốt đẹp được nối dài.
+ Sự tri ân không chỉ đem đến cho người khác niềm vui, sự xúc động mà còn góp phần định hướng, điều chỉnh suy nghĩ, tình cảm, hành động của mỗi người. Tri ân là điều cần có để con người hoàn thiện nhân cách. + Trong thời đại ngày nay, trước những vấn đề của bức thiết của nhân loại, khi mà mỗi dân tộc đều được đặt trong mối quan hệ với các dân tộc khác, được nhận sự giúp đỡ, sẻ chia của cả thế giới thì lòng tri ân lại càng trở thành một nét đẹp trong ứng xử giữa các quốc gia để xây dựng một thế giới tốt đẹp, hoà bình.
=> Như vậy, “thế giới cần sự tri ân” là một thông điệp mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc.
+ Nếu mỗi người không biết trân trọng, biết ơn, dừng dưng trước ân nghĩa của người khác thì thế giới sẽ trở thành sa mạc của sự ích kỉ.
– Con người cần làm gì để biết tri ân, để tri ân trở thành thái độ sống tốt đẹp?(1,0 đ)
+ Con người nhận thức sâu sắc ý nghĩa của sự tri ân; cần biết trân trọng những điều tốt đẹp, dù là nhỏ bé nhất để tri ân, không chỉ với những người thân, những người xung quanh mà còn với cả cuộc đời.
+ Thể hiện sự tri ân với cuộc đời, với những người xung quanh bằng suy nghĩ, tình cảm và cả hành động.
3. Liên hệ bản thân và rút ra bài học (1,0 đ)

Đọc thêm: Để học tốt Ngữ Văn 10 chương trình nâng cao PDF


Câu 2 (12 điểm)
I. Yêu cầu về kĩ năng:
Thí sinh có kĩ năng làm bài nghị luận văn học: nghị luận một ý kiến bàn về văn học; kết hợp linh hoạt, nhuần nhuyễn các thao tác lập luận; diễn đạt mạch lạc, có chất văn.
II. Yêu cầu về kiến thức: Bài làm cần đạt được những nội dung cơ bản sau:

1. Giải thích ý kiến (1,0 đ)

– Truyện cổ tích: một thể loại của văn học dân gian thường viết về những con người nhỏ bé, đáng thương để thể hiện ước mơ về hạnh phúc, công bằng, công lý của nhân dân lao động.
– Truyện cổ tích dạy ta biết yêu, biết ghét: Truyện cổ tích định hướng, giáo dục con người biết nhận ra cái tốt, cái xấu, cái thiện, cái ác và định hướng con người có thái độ đúng đắn: yêu mến, trân trọng cái thiện, cái tốt; lên án, phê phán cái xấu, cái ác.

– Truyện cổ tích dạy ta biết ước mơ: truyện cổ tích mang đến nhiều giấc mơ đẹp từ đó hướng con người biết mơ ước những điều tốt đẹp, chính đáng để có niềm tin, sự lạc quan trong cuộc sống.
=> Nhận định đề cập đến sức tác động nhiều mặt của truyện cổ tích đối với con người: nó không chỉ hướng ta đến những thái độ, tình cảm đúng đắn mà còn biết nâng đỡ tâm hồn ta. Đây cũng là sự khẳng định giá trị phong phú, sức sống lâu bền của truyện cổ tích.

Giáo án bồi dướng học sinh giỏi lớp 10
Giáo án bồi dướng học sinh giỏi lớp 10

2. Bình luận (9,0 đ)
2.1. Khẳng định ý kiến đã cho là xác đáng, sâu sắc.
2.2. Đưa ra những cơ sở lí luận về đặc trưng, giá trị của truyện cổ tích và mịnh họa bằng những truyện cổ tích được học (Tấm Cám; Chử Đồng Tử,…) và những truyện cổ tích đã đọc để làm sáng tỏ ý kiến của bản thân một cách thuyết phục. Sau đây là một hướng giải quyết:
– Truyện cổ tích dạy ta biết yêu, biết ghét vì: Truyện cổ tích thể hiện thái độ, quan điểm của nhân dân trước cái thiện và cái ác ở đời. Đọc truyện cổ tích, những quan điểm của người xưa thấm tự nhiên vào tâm hồn ta, định hướng cho ta cách sống, cách làm người: (4,5 đ)
+ Trong truyện cổ tích luôn có sự phân tuyến nhân vật thiện- ác rất rõ ràng và tác giả dân gian ngay từ đầu đã định hướng thái độ cho người đọc với các tuyến nhân vật này: các nhân vật thiện thường được gọi bằng: anh, chàng, nàng, cô… với các nhân vật ác thường được gọi là: hắn, mụ, gã…(1,5 đ)
+ Trong truyện cổ tích cuộc đấu tranh thiện- ác luôn gay cấn, quyết liệt, trong đó cái thiện luôn bị cái ác lừa gạt, áp bức. Người đọc luôn thấy đồng cảm, thương xót, bênh vực thậm chí hả hê trước hành động của nhân vật thiện chống lại cái ác; hành động của các nhân vật ác luôn khiến người đọc phẫn nộ, căm ghét. (1,5 đ) + Kết thúc của truyện cổ tích thường có hậu theo quy luật “ở hiền gặp lành, ác giả ác báo”. Kết thúc này cũng chính là tình cảm thái độ của nhân dân với cái thiện, cái ác từ đó định hướng thái độ đúng đắn cho người đọc. (1,5 đ)
– Truyện cổ tích dạy ta biết ước mơ vì: truyện cổ tích đã thực sự bồi đắp, nâng đỡ tâm hồn con người (4,5 đ):
+ Ra đời trên cái nền hiện thực ngột ngạt và bức bối, truyện cổ tích với sự tham gia của các yếu tố thần kì đã dựng nên thế giới của những ước mơ đẹp: ước mơ về công bằng, công lý; ước mơ về cuộc sống no đủ; ước mơ về tự do hôn nhân; ước mơ công việc lao động trở nên nhẹ nhàng hơn… Từ đó truyện cổ tích dạy ta phải biết vươn lên trên hiện thực để hướng tới chân, thiện, mĩ. (1,5 đ)
+ Truyện cổ tích dạy con người ước mơ những điều chân chính và thiết thực chứ không phải là những ước mơ viển vông, xa vời. (1,0 đ)

+ Trong truyện cổ tích, những giấc mơ đẹp chỉ thành hiện thực với những con người hiền lành, lương thiện bởi vậy truyện cổ tích dạy ta phải trở thành người tốt trước khi đến với những ước mơ bay bổng, lãng mạn. (1,0 đ)
+ Nhân vật chính trong truyện cổ tích có thể gặp nhiều bất hạnh nhưng không bao giờ bi quan, tuyệt vọng từ đó truyện cổ tích dạy con người phải có niềm tin, niềm lạc quan trong cuộc sống. (1,0 đ)

Ở mỗi ý, thí sinh cần chọn dẫn chứng tiêu biểu trong những truyện cổ tích đã học, đã đọc, biết phân tích có định hướng để làm sáng tỏ ý kiến.
3. Mở rộng vấn đề:(1,5 đ)
Hiểu được giá trị của truyện cổ tích cần có cách ứng xử đúng đắn như: đọc truyện cổ tích theo đặc trưng thể loại; có thái độ trân trọng, gìn giữ kho tàng truyện cổ tích nói riêng và văn học dân gian nói chung; làm những giá trị cao đẹp đẽ của cổ tích thấm nhuần trong tâm hồn con người.

Đọc thêm: Sơ đồ tư duy Tỏ lòng ngắn gọn

4. Khẳng định giá trị của nhận định (0,5 đ)

Nhận định đã góp một tiếng nói khẳng định giá trị phong phú, giàu chất nhân văn và sức sống bất diệt của truyện cổ tích, truyền đến cho ta tình yêu, sự trân trọng đối với thể loại này nói riêng và văn học dân gian nói chung…
* Lưu ý chung:

– Giám khảo chỉ cho điểm tối đa ở các ý nội dung có sức thuyết phục, hành văn trong sáng, có cảm xúc, không mắc lỗi chính tả, lỗi diễn đạt.
– Trên cơ sở của biểu điểm này, tùy vào mức độ đạt được của bài viết, giám khảo cho các mức điểm còn lại. – Giám khảo cần trân trọng, khuyến khích những bài viết có những suy nghĩ, kiến giải riêng hợp lí, thuyết phục; diễn đạt có chất văn.

– Tổng điểm của bài viết là tổng điểm của hai câu; để điểm lẻ đến 0,25.

Giáo án bồi dướng học sinh giỏi lớp 10

Gửi phản hồi