Phân tích bức tranh thiên nhiên để thấy cái Tôi của Hàn Mặc Tử

0
64

Đề Bài: Phân tích bức tranh thiên nhiên trong “Đây thôn Vĩ Dạ ” để từ đó thấy được cái “tôi ” đau thương và khát khao của Hàn Mặc Tử

XEM THÊM: Đây thôn Vĩ Dạ (phần 1): Dàn ý nắm chắc kiến thức

a/ Mở Bài

‘“ Tôi dám chắc với các người rằng sau này những gì tầm thường, mực thước kia sẽ tan biến đi còn lại một chút gì của thời này đó là Hàn Mặc Tử”. Lời tiên tri của Chế Lan Viên năm xưa nay đã trở thành nhiệm thực. Và  “Đây thôn Vĩ Dạ” xứng đáng là một chút gì còn mãi với thời gian, để từ chút ấy độc giả bừng thức, nhận ra rằng sự sống của một hồn thơ đâu giới hạn bằng một đời người… Đằng sau bức tranh thiên nhiên đẹp đẽ, đằng sau mỗi dòng chữ tươi sáng là cả  một khối u hoài, một dòng tâm trạng của một cái “tôi” trữ tình đau thương, bơ vơ, cô đơn và khát khao đồng cảm, yêu đời, yêu người đến tha thiết và tuyệt vọng.

b/ Thần bài

1. Tác giả, tác phẩm

1.1. Tác giảHàn Mặc Tử (1912-1940), tên thật là Nguyễn Trọng Trí; quê ở Lệ Mĩ, Đồng Hới, Quảng Bình, xuất thân trong một gia đình Công giáo nghèo. Sau khi học trung học ở Huế, ông làm ở Sở Đạc điền Bình Định, sau đó vào Sài Gòn làm báo. Năm 1936, do mắc bệnh phong nên ông về hẳn Quy Nhơn chữa bệnh rồi mất ở trại phong Quy Hòa.

Cuộc đời Hàn Mặc Tử tuy ngắn ngủi, nhiều đau thương nhưng sức sáng tạo của ông lại rất dồi dào, mạnh mẽ. Hàn Mặc Tử là một hồn thơ mãnh liệt, tiêu biểu của phong trào thơ mới, là con người tài hoa nhưng bạc mệnh, bệnh tật, tình duyên trắc trở, phải sống cách li, tuyệt giao với mọi người. Bởi vậy, thế giới thi ca của Hàn Mặc Tử không bình yên mà đầy ma mị, Thơ Hàn Mặc Tử bên cạnh những vần thơ đau đớn và quằn quại trong máu và nước mắt vẫn có những vần thơ trong sáng, tươi vui.

Nhưng dù thế nào thơ của Hàn Mặc Tử vẫn thể hiện một khát khao mãnh liệt thiết tha bám víu cuộc đời: “Tôi đã sống mãnh liệt và đầy đủ. Sống bằng tim, bằng phổi, bằng màu, bằng lệ, bằng hồn. Tôi đã phát gần hết mọi cảm giác của tình yêu. Tôi đã vui, buồn, giận, hờn đến gần đứt sự sống” (Tựa Thơ Hàn Mặc Tử).

Phân tích bức tranh thiên nhiên để thấy cái Tôi của Hàn Mặc Tử


Đây thôn Vĩ Dạ
được viết năm 1939 in lần đầu trong tập Thơ Điên, khi Hàn Mặc Tử phải sống trong bệnh tật, vật vã với cơn đau ở trại  Phong Quy Hòa, ít lâu sau, Hàn Mặc Tử từ giã cõi đời này. Bài thơ được khơi nguồn cảm hứng từ mối tình đơn phương giữa Hàn Mặc Tử và Hoàng Cúc – người con gái xứ Huế, từ tình yêu, kỷ niệm với xứ Huế – một vùng đất mộng mơ.  Bài thơ là bức tranh thiên nhiên và con người xứ Huế hiện lên qua hồi ức của tác giả.

2. Phân tích

2.1.Cảnh thiên nhiên Và Con người thôn Vĩ

Đây thôn Vĩ Dạ cho ta gặp một cái tôi trữ tình đau thương và khao khát. Câu thơ mở đầu phảng phất chút riêng tư của tác giả: Sao anh không về chơi thôn Vĩ ? Câu thơ mở đầu là câu hỏi tu từ với nhiều sắc thái: Vừa là câu hỏi nhưng lại gợi cảm giác như lời trách nhẹ nhàng và cũng là lời mời gọi thiết tha của cô gái thôn Vĩ với nhà thơ, hay đây cũng là lời nhà thơ tự trách mình, tự hỏi mình, là ước ao thầm kín của người đi xa được về lại thôn Vĩ.

Nhân vật trữ tình đã phân thân để tự đối thoại, để độc thoại mà bày tỏ nỗi lòng, khát vọng với cảnh và người thôn Vĩ hay với cuộc đời trần thế đầy ánh sáng, niềm vui, hạnh phúc mà từng phút giây thi sĩ đang phải chia lÌa. Câu thơ có bảy chữ nhưng chưa tới sáu thanh bằng đi liền nhau làm cho âm điệu trách móc cứ dịu nhẹ đi, lời trách nhẹ nhàng mà tha thiết và bâng khuâng.

Ở thôn Vĩ Có cái gì đặc biệt và hấp dẫn mà lời mời lại tha thiết đến vậy? Câu hỏi thấm thía một nỗi niềm nuối tiếc, day dứt vọng lên từ trong lòng nhà thơ khi giờ đây dù thôn Vĩ có mộng có thơ đến mấy thì thi sĩ cũng chỉ có thể trở về trong tâm tưởng.

Ngay sau đó là thế giới sự sống hiện ra qua cảnh và người thôn Vĩ, qua hoài niệm của thi nhân ở ba câu thơ tiếp: Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên Vườn ai mướt quá xanh như ngọc Lá trúc che ngang mặt chữ Điền

Đối với Hàn Mặc Tử, câu thơ vừa ngọt ngào vừa gợi mở vừa trách móc ấy đã làm hồi sinh, bừng dậy trong nhà thơ bao kỉ niệm về một Vĩ Dạ mộng và thơ.

Bức tranh thôn Vĩ hiện lên với hình ảnh: Nắng hàng cau, Vườn ai và hình ảnh Mặt chữ điền. Hình ảnh: “Nắng hàng cau nắng mới lên” gợi vẻ đẹp tinh khôi, thanh khiết.

Cau là cây cao nhất trong vườn nên sớm đón được những tia nắng đầu tiên của một ngày vì thế “Nắng hàng cau” là nắng thanh tân, tinh khôi, ánh nắng chiếu vào thân cau đổ bóng xuống khu vườn, thân cau thẳng lại chia thành nhiều đốt đều đặn bởi vậy mà cau như cây thước của thiên nhiên được dựng sẵn trong vườn để đo mức nắng.

Loài cây ấy lại được chiếu rọi bởi một thứ ánh nắng đặc biệt, nắng mới lên. nắng đầu tiên của một ngày mới mẻ, ấm áp.cách nói thông thường mà là nắng mới lên.

Chữ “Mới” tô đậm cái trong trẻo tinh khiết của những tia nắng đầu tiên trong ngày. Trong thơ Hàn Mặc Tử thường bừng lên nhiều sắc nắng. Đó là thứ nắng ửng: Trong làn nắng ửng khói mơ tan Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng Hay cái nắng chang chang: Chị ấy năm nay còn gánh thóc Dọc bờ sông trắng nắng chang chang Nếu như trong những bài thơ khác, nhà thơ cụ thể ánh nắng bằng các tính từ thì ở đây thì sĩ không tả nắng mà chỉ gợi nên những liên tưởng.

Sắc nắng tinh khôi và dáng cau mảnh mai hòa hợp trong một vẻ đẹp thật dịu dàng và yên bình. Một câu thơ có hai từ “Nắng” mở ra một không gian bừng tươi sắc nắng. Trong ánh nắng của buổi sớm mai, hình ảnh vườn tược buổi bình minh hiện lên tràn đầy sức sống. Hình ảnh khu vườn “Mướt” hàm chứa ý nghĩa của tính từ ướt và sáng bóng thể hiện vẻ mượt mà, non tơ, óng chuốt, mơn mởn xanh tươi.

Vẻ đẹp ấy đã khiến nhà thơ phải trầm trồ say đắm. Hình ảnh so sánh “xanh như ngọc”: Sương đêm ướt đẫm cây cỏ hoa lá, màu xanh mỡ màng, non tơ ngời lên, bóng lên dưới ánh mai hồng, trông “mướt quá” một màu xanh như ngọc bích. Ta có thể hiểu được thông qua điểm nhìn bao quát toàn bộ khu vườn của tác giả.

Cũng nói về màu xanh ngọc bích, trước đó (1938) Xuân Diệu đã từng viết: “Đổ trời xanh ngọc qua muôn lá… (Thơ duyên). “Mướt” ánh lên vẻ mượt mà óng ả đầy xuân sắc. Còn “Ngọc” là tinh thể trong suốt nên vừa có màu vừa có ánh. Tất cả đều hoà hợp và ánh lên một vẻ đẹp thanh tú, Câu thơ là một bức tranh quê rực rỡ, tươi mới và tràn đầy sức sống. Thi sĩ đang muốn tuyệt đối hoá, tột cùng hoá vẻ đẹp đẽ, quý giá, cao sang của đối tượng.

Qua đó thấy được niềm thiết tha với cuộc đời trần thế của chủ thể trữ tình.nhân – cái tôi bơ vơ và cô đơn vì chia cách và khao khát hạnh phúc cuộc đời. Có thể hiểu đó là cảnh sông Hương, song cũng có thể hiểu đó là cảnh sông nước nào đó của cuộc đời trần thế

Phân tích bức tranh thiên nhiên để thấy cái Tôi của Hàn Mặc Tử

  Hai câu thơ đầu gợi lên một vẻ đẹp riêng của sông Hương xứ Huế và thi sĩ đã cảm nhận dòng sông qua tâm trạng chia li, cách biệt: Gió theo lối gió mây đường mâyDòng nước buồn thiu hoa bắp lay Không gian được mở rộng ra ngoài khung cảnh của thôn Vĩ; trời mây sông nước xứ Huế. Huế mộng và thơ thật dịu dàng. Câu thơ đã mang cả cái nhịp điệu nhẹ nhàng của Huế.

Buổi ban mai ở Vĩ Dạ đã chuyển vào ngày rồi sang đêm tối. Dòng sông với gió thổi nhẹ, mây trôi chậm và dòng nước lững lờ với hoa bắp đôi bờ cũng chỉ khẽ lay động. Hình ảnh: gió, may là hai thực thể luôn gắn bó: gió thổi mây bay. Chúng ta không thể nhìn được mà chỉ cảm được sự tồn tại của gió qua sự chuyển động của mây. Trong câu thơ gió mây tách biệt và chuyển động ngược chiều nhau nên thật ngang trái, phi hiện thực gợi nên sự chia lìa đôi ngả.

Cách ngắt nhịp 4/3 rõ ràng, dứt khoát như ngắt thành hai nửa, gió đóng khung trong hai chữ “Gió”, “Mây” cuộn trong hai từ mây gợi ra tâm thế chia lìa thật quyết liệt, không thể cưỡng lại được, Hình ảnh “Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay” dùng biện pháp nhân hóa con sông thành một sinh thể có hồn, có tâm trạng để giãi bày tâm tư của chính mình. “Dòng nước buồn” mang trong lòng một tâm trạng buồn hay nỗi buồn chia phôi của gió – mây.

Động từ “lay” gợi một nỗi buồn hiu hắt, lay lắt – một nỗi buồn bao phủ từ bầu trời đến mặt đất, từ dòng nước lặng lẽ lững lờ trôi đến sự lay động rất nhẹ rất khẽ của hoa bắp trên sông. Với hai chữ “Buồn thiu” dòng sông đã trở thành một sinh thể có hồn mang tâm trạng Hàn Mặc Tử.

Hai câu thơ đã mở ra bức tranh thiên nhiên ảm đạm nỗi buồn hiu hắt mang dự cảm về hạnh phúc chia xa nhuốm màu chia lìa, sự sống mệt mỏi yếu ớt. Hai câu thơ sau là nỗi nhớ, là hoài niệm của nhân vật trữ tình về sông nước, đêm trăng và tâm trạng xót xa, nuối tiếc: Thuyền ai đậu bến sông trăng đóCó chở trăng về kịp tối nay?

Hai câu thơ vẽ ra vẻ đẹp mộng mơ của dòng sông xứ Huế, thuyền chở trăng đậu trên bến sông trăng, một không gian tràn ngập ánh trăng, gợi không khí mơ hồ huyền ảo, đẹp một cách thơ mộng làm cho không gian nghệ thuật ở đây càng thêm hư ảo mênh mang.

Sông của hiện thực đã trở thành dòng sông cõi mộng. Cảnh vật đã được ảo hóa gợi lên cảm giác chơi vơi trong tâm trạng của nhà thơ. Hình ảnh con thuyền cô đơn nằm trên bến sông trăng là một sáng tạo độc đáo của Trong khu vườn xinh đẹp ấy thấp thoáng có bóng người sau khóm trúc. Hình ảnh con người thôn Vĩ hiện lên với khuôn mặt chữ điền – khuôn mặt đẹp, phúc hậu của người dân thôn Vĩ, người dân xứ Huế. Hình ảnh “Lá trúc che ngang” miêu tả con người thấp thoáng, điểm xuyết bên cạnh thiên nhiên khiến cho câu thơ càng giàu sức gợi.

Bức tranh thôn Vĩ lúc sáng sớm đẹp, trong sáng, gợi cảm và đầy sức sống: Cảnh xinh xắn, người phúc hậu, thiên nhiên và con người hài hòa với nhau trong vẻ đẹp kín đáo, dịu dàng.

Phân tích bức tranh thiên nhiên để thấy cái Tôi của Hàn Mặc Tử

 Như vậy ở khổ thơ thứ nhất này là một cái tôi trữ tình đang “Mê đắm chiêm bái vẻ đẹp trần thế trinh nguyên, trong sáng” Song tất cả đã thuộc về quá khứ, đã tuột khỏi tầm tay nên cái tôi trữ tình nhớ mong ngóng trông vời vợi về thôn Vĩ. 2.2 Cảnh sông nước mây trời xứ Huế Khổ thơ thứ hai là cảnh sông nước mây trời xứ Huế qua tâm trạng xót xa, nuối tiếc của thi nhân – cái tôi bơ vơ và cô đơn và chia cách và khao khát hạnh phúc cuộc đời.

Có thể hiểu đó là cảnh sông Hương, song cũng có thể hiểu đó là cảnh sông nước nào đó của cuộc đời trần thế Hai câu thơ đầu gợi lên một vẻ đẹp riêng của sông Hương xứ Huế và thi sĩ đã cảm nhận dòng sông qua tâm trạng chia li, cách biệt: Gió theo lối gió mây đường mâyDòng nước buồn thiu hoa bắp lay Không gian được mở rộng ra ngoài khung cảnh của thôn Vĩ; trời mây sông nước xứ Huế. Huế mộng và thơ thật dịu dàng. Câu thơ đã mang cả cái nhịp điệu nhẹ nhàng của Huế.

Buổi ban mai ở Vĩ Dạ đã chuyển vào ngày rồi sang đêm tối. Dòng sông với gió thổi nhẹ, mây trôi chậm và dòng nước lững lờ với hoa bắp đôi bờ cũng chỉ khẽ lay động. Hình ảnh: gió, may là hai thực thể luôn gắn bó: gió thổi mây bay. Chúng ta không thể nhìn được mà chỉ cảm được sự tồn tại của gió qua sự chuyển động của mây. Trong câu thơ gió mây tách biệt và chuyển động ngược chiều nhau nên thật ngang trái, phi hiện thực gợi nên sự chia lìa đôi ngả.

Cách ngắt nhịp 4/3 rõ ràng, dứt khoát như ngắt thành hai nửa, gió đóng khung trong hai chữ “Gió”, “Mây cuộn trong hai từ mây gợi ra tâm thế chia li thật quyết liệt, không thể cưỡng lại được, Hình ảnh “Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay” dùng biện pháp nhân hóa con sông thành một sinh thể có hồn, có tâm trạng để giãi bày tâm tư của chính mình. “Dòng nước buồn” mang trong lòng một tâm trạng buồn hay nỗi buồn chia phôi của gió – mây.

Động từ lay gợi một nỗi buồn hiu hắt, lay lắt – một nỗi buồn bao phủ từ bầu trời đến mặt đất, từ dòng nước lặng lẽ lững lờ trôi đến sự lay động rất nhẹ rất khẽ của hoa bắp trên sông. Với hai chữ”Buồn thiu” dòng sông đã trở thành một sinh thể có hồn mang tâm trạng Hàn Mặc Tử. Hai câu thơ đã mở ra bức tranh thiên nhiên ảm đạm nỗi buồn hiu hắt mang dự cảm về hạnh phúc chia xa nhuốm màu chia lìa, sự sống mệt mỏi yếu ớt.

Hai câu thơ sau là nỗi nhớ, là hoài niệm của nhân vật trữ tình về sông nước, đêm trăng và tâm trạng xót xa, nuối tiếc: Thuyền ai đậu bến sông trăng đóCó chở trăng về kịp tối nay? Hai câu thơ vẽ ra vẻ đẹp mộng mơ của dòng sông xứ Huế, thuyền chở trăng đầu trên bến sông trăng, một không gian tràn ngập ánh trăng, gợi không khí mơ hồ huyền ảo, đẹp một cách thơ mộng làm cho không gian nghệ thuật ở đây càng thêm hư ảo mênh mang Sông của hiện thực đã trở thành dòng sông cõi mộng. Cảnh vật đã được ảo hóa chi lan. giác chơi vơi trong tâm trạng của nhà thơ.

Hình ảnh con thuyền cô đơn nằm trên bến sông trăng là một sáng tạo độc đáo của Hàn Mặc Tử, nó mang theo những nỗi niềm của thi sĩ. Nếu như coi vạn vật trong thế chia lìa, li tán thì chỉ có trăng là đi ngược lại với tất cả để trở về với thi sĩ.

Phân tích bức tranh thiên nhiên để thấy cái Tôi của Hàn Mặc Tử

Tâm hồn nhà thơ đang rợn ngợp trong nỗi cô đơn, tưởng như mình bị bỏ rơi bên bờ quên lãng. Trong khoảnh khắc ấy, thì sẽ chỉ còn biết mong đợi một hình ảnh duy nhất  là trăng. Vì thế, câu cuối là một câu hỏi ẩn chứa biết bao nỗi niềm khắc khoải, lo âu, bởi quỹ thời gian còn lại quá ngắn ngủi mà trăng thì vẫn quá xa xôi. Tâm trạng trữ tình phấp phỏng, lo âu được thể hiện qua từ “Kịp” vừa như mong chờ hy vọng một cái gì đó đang rời xa, biết khi nào trở lại.

Điều đó đã khiến cho khoảng thời gian “Tối nay” càng trở nên ngắn ngủ, như trong quỹ thời gian ít ỏi còn lại của thi nhân. Qua hai câu thơ ta thấy được bức tranh nhiên nhiên sông nước xứ Huế buồn hiu hắt trong đêm trăng chở nặng nỗi niềm ưu tư của thi nhân. Tất cả bức tranh ấy được thể hiện qua một câu hỏi tu từ đầy da diết và khắc khoải, Trăng đã đi vào thơ Tử như một nhân vật huyền thoại, một nơi chốn để tâm hồn thi nhân được phiêu diêu, thoát tục.

Không ai biết nhiều, viết hay về trăng như Hàn Mặc Tử: Không gian đắm đuối toàn trăng cả Anh cũng trăng mà em cũng trăng Hay: Gió lùa ánh sáng vào trong bãi Trăng ngập dòng sông chảy lãng lai Đúng như lời nhận xét của Bích Khê ”Hàn Mặc Tử có con mắt rất mơ rất ảo. Nhìn vào sự thực thì sự thực thành chiêm bao; nhìn vào chiêm bao lại biến thành huyền diệu.

Câu thơ của Tử thanh tao quá. Đọc lên nghe ngọt lịm cả người”. Từ những câu thơ tả trăng, người đọc có thể cảm nhận được tâm thế sống của nhà thơ tranh đua với thời gian, tranh thủ từng buổi, từng ngày trong cái quỹ thời gian ngắn ngủi của số phận mình. Cả thơ ẩn chứa cả niềm hy vọng, tuyệt vọng, cả nỗi mong chờ âu lo, nỗi đau thương, mòn mỏi của tâm hồn thi sĩ.

2.3. Cảnh sương khói mơ hồ, hư ảo

Những câu thơ cuối lộ rõ cái tôi trữ tình đau thương và khao khát tình đời, tình người.Trước sau vẫn là biểu hiện của một tâm hồn yêu đời đến đau thương và tuyệt vọng: Mơ khách đường xa, khách đường xa Áo em trắng quá nhìn không ra Ở đây sương khói mờ nhân ảnhAi biết tình ai có đậm đà?

Hình ảnh trong những câu thơ của Hàn Mặc Tử vẫn gợi vẻ đẹp rất riêng của xứ Huế mộng mơ, một mảnh đất nhiều sương khói mơ màng, những tà áo dài trắng của nữ Sinh Đồng Khánh duyên dáng một thời, cảnh tượng như hư ảo dần đi, như mơ hồ mãi. Điệp từ “Khách đường xa” lặp lại hai lần khiến câu thơ trở nên gấp gáp, giục giã như một lời gọi với theo. Ta bắt gặp ánh mắt dõi nhìn theo, đâu đó như trong “Vô đề” của Nguyễn Bính; Ai đi đấy, gì về đầuCánh buồm nâu, cánh buồm nâu, cánh buồm…

Dường như với Hàn Mặc Tử, bóng người con gái ấy cứ hút mãi, xa mãi và cuối cùng chỉ là bóng dáng khát khao, mơ ước của thi nhân. Và bóng dáng ấy chỉ còn là ấn tượng về một tà áo trắng trong veo, thanh khiết, gợi cho ta nghĩ đến một câu thơ của Huy Cận:“Áo trắng đơn sơ mộng trắng trong”.

Hình ảnh con người xác định hơn bao giờ hết, là em nhưng lại rất xa xôi. Em trong trang phục áo trắng gợi nên vẻ đẹp tinh khôi, trinh nguyên – vẻ đẹp mà Hàn Mặc Tử vẫn luôn tôn | thờ, nhưng sắc trắng ấy thật lạnh lẽo, cái lạnh đến từ thế giới hư ảo, mông lung. Sắc áo trắng của em lẫn vào sương khói xứ Huế nên càng mờ mịt, hư ảo, nhìn không ra. Thi nhân đang sống trong ảo giác, không phải nhìn bằng mắt thường mà bằng đôi mắt tâm tư, đôi mắt tâm hồn của thi sĩ.

Nhân vật trữ tình trở về với thực tại trong lãnh cung chia lìa, bất hạnh. Tâm trạng nhà thơ: buồn tủi tuyệt vọng. Nhà thơ nói ở đây là nói về mình và thế giới của mình, chính là cái thế giới phủ đầy sương khói mờ ảo ấy.

Và nhà thơ cay đắng nhận ra khoảng cách giữa người con trai và người con gái mà anh thiết tha yêu không phải là khoảng cách của những dặm đường từ Quy Nhơn đến Huế mà là hố sâu ngăn cách hai thế giới: giữa bóng tối và ánh sáng, giữa “Sương khói” và “trắng trong” khiến anh không thể nhận ra tình cảm của em. Có thể nhận ra một điều tất yếu rằng giữa hai người lúc này đây là sương khói của không gian, thời gian và tình yêu.

Và người con trai đang đớn đau vì bệnh tật, đầy mặc cảm với thân phận mình đã không thể tin, không dám tin vào sự đậm đà, thắm thiết của một người. Người ấy mà sao xa  cách mình đến thế, mà cử ở một thế giới nào đó khác mình đến thế.

Tác giả sử dụng đại từ phiếm chỉ “Ai lặp lại cộng hưởng với những lần xuất hiện trước đó đã cho ta thấy con người mà tác giả muốn nhắc đến là con người xa vắng trong hoài niệm bâng khuâng. Dù là ai đi nữa thì băn khoăn, âu lo, tuyệt vọng đau đớn cũng xuất phát từ một tâm hồn khao khát tình yêu, khao khát tình đời, tình người. Cách nói quen thuộc “Ai biết ai” như trong bài “Hoa cỏ may” của Xuân Quỳnh: Lời yêu mỏng mảnh như lời khói Ai biết lòng anh có đổi thay.

Dường như nhà thơ đang lảnh tránh một chữ tình của người con gái xứ Huế. Không gian chìm vào cõi mộng ảo tâm trạng nhà thơ nửa mê nửa tỉnh trong niềm khát khao được yêu, được sống. Nhà thơ luôn cảm thấy mình hụt hẫng, chơi với trước một moi tu phuong mộng ảo. Một chút hi vọng mong manh mà tha thiết như đang nhạt nhòa và mờ đi cùng sương khói.

Phân tích bức tranh thiên nhiên để thấy cái Tôi của Hàn Mặc Tử

3. Đánh giá

3.1. Nội dung

Bài thơ là bức tranh thiên nhiên và con người xứ Huế hiện lên qua hồi ức của tác giả đồng thời cũng là bức tâm cảnh của một tâm hồn cô đơn, khao khát được yêu, được sống. Bài thơ xuất phát từ hoàn cảnh riêng nhưng nó đã vượt qua một mối tình, một cảnh ngộ cụ thể để trở thành tiếng nói tâm trạng của cả một thế hệ và hơn thế trở thành tiếng lòng muôn thuở của con người trong cuộc đời.

Bài thơ gồm ba khổ thơ giống như ba bài thơ tứ tuyệt xinh xắn nối tiếp nhau. Từ khổ một đến khổ ba cảnh và tình vận động theo hướng thực – mộng – ảo. Tất cả đều là những sự biểu hiện trái chiều của cùng một cái tôi trữ tình đau thương và khát khao đồng cảm, yêu thương, khát khao tình đời và tình người,

3.2. Nghệ thuật

Bài thơ đã kết hợp giữa tả thực và tượng trưng tạo nên những mơ hồ, ảo ảnh thường thấy trong thơ Hàn Mặc Tử. Những hình ảnh thơ đẹp, độc đáo, gợi cảm càng làm cho bức tranh thiên nhiên xứ Huế cũng như bức tranh tâm trạng của thi nhân thêm sâu sắc, nhiều chiều và làm nên một nét riêng rất Hàn Mặc Tử, có gì đó ma mị và cuốn hút. Ngôn ngữ thơ trong sáng, tinh tế đa nghĩa, đặc biệt nhà thơ sử dụng thành công những câu hỏi tu từ, điệp từ, biện pháp nhân hóa để sau mỗi cảnh vật thiên nhiên hiện lên nỗi lòng tâm trạng của chính mình.

c/ Kết bài

Với giọng điệu tha thiết, bài thơ trước hết là lời Hàn Mặc Tử gửi gắm tình cảm với người con gái mà anh yêu thầm, thể hiện tình cảm với cảnh và người xứ Huế. Và trên hết đó là tình cảm với cuộc đời. Vượt qua một mối tình, bài thơ trở thành tiếng lòng muôn đời của con người. Vì rằng không ai yêu đời hơn một người sắp lìa xa dương thế mà hơn thế nữa đó lại là một thi nhân đang sống trong cái dự cảm khôn nguôi về cái lúc chia lìa mà “mỗi lần cầm bút như lần nói lời tuyệt mệnh, lời nguyện cuối”

LIÊN QUAN:

Gửi phản hồi