Phân tích bi kịch cự tuyệt làm người của Chí Phèo trong truyện ngắn cùng tên

0
88
Phân tích bi kịch cự tuyệt làm người của Chí Phèo
Phân tích bi kịch cự tuyệt làm người của Chí Phèo

Hey! Xin mời mọi người đến với phần 2: Phân tích bi kịch cự tuyệt quyền làm người của “Chí Phèo”. Mình xin nhắc lại tính chất quan trọng của tác phẩm này và mình chắc chắn nếu đi thi mà vào truyện ngắn “Chí phèo” thì sẽ vào phần này.Các bạn có thể xem lại phần 1 để nắm rõ các ý chính của tác phẩm.

XEM THÊM:Phân tích tác phẩm “Chí Phèo ” bằng sơ đồ tư duy

 

 

A. Mở bài

Khi “Đôi lứa xứng đôi” (tức “Chí Phèo) xuất hiện trên văn đàn (1941) thì văn học hiện thực phê phán đã qua một thời kỳ phát triển rực rỡ. Là người đến muộn, nhưng Nam Cao đã tự khẳng định mình bằng những khám phá nghệ thuật mới mẻ, đem đến cho văn học đường thời một tiếng nói riêng đặc sắc.

Hơn năm mươi năm đã trôi qua, tác phẩm Chí Phèo ngày thêm được khẳng định, được khám phá từ những góc độ mới mẻ và chắc chắn sẽ tồn tại vĩnh viễn trong lịch sử văn học Việt Nam như một tác phẩm ưu tú.

“Bi kịch của một con người bị khước từ quyền làm người đó là chủ đề xuyên suốt toàn bộ hình tượng của tác phẩm, được nhà văn đặt ra như một tiếng kêu cứu thảm thiết, bức xúc, tạo nên giá trị nhân đạo đặc sắc của tác phẩm Chí Phèo.

B. Thân bài

1.Tác giả, tác phẩm

a. Tác giả:
Nam Cao tên thật là Trần Hữu Tri, sinh ngày 29/10/1917 trong một gia đình nông dân ở làng Đại Hoàng, tổng Cao Đà, huyện Nam Sang, Phủ Lí Nhân, tỉnh Hà Nam. Học hết bậc thành chung, Nam Cao vào Sài Gòn kiếm sống.

Vì điều kiện sức khoẻ Nam Cao ra Bắc dạy học ở một trường tư thục, sống bằng nghề giáo khổ trường tư và bạc bẽo trong nghề viết văn. Nam Cao tận tay phục vụ cách mạng và kháng chiến cho tới lúc hy sinh. Tháng 11/1951 trên đường Công tác vùng địch hậu Liên khu III (Thanh Hoá trở ra Hà Nam) ông bị địch phục kích và sát hại.

Nam Cao Có vẻ bề ngoài có vẻ vụng về, ít nói nhưng có đời sống nội tâm phong phú, sôi sục, là con người trí trung thực vô ngần luôn luôn vươn lên và nghiêm khắc đấu tranh với chính mình để thoát khỏi lối sống tầm thường, nhỏ nhen, khát khao vươn tới tâm hồn của Con người thật đẹp. Nam Cao là người có tấm lòng đôn hậu, chan chứa yêu thương.

Ông gắn bó tha thiết với người nông dân ở quê hương mình, nhất là những người nghèo khó bị áp bức. Quan điểm sáng tác của Nam Cao chủ yếu dựa trên tinh thần nhân đạo hiện thực, sáng tạo và phục vụ cho kháng chiến.

Phân tích bi kịch cự tuyệt làm người của Chí Phèo trong truyện ngắn cùng tên

b. Tác phẩm :
Dựa vào hoàn cảnh thật, người thật mà Nam Cao được chứng kiến và nghe kể về làng quê mình, bức xúc trước hiện thực tàn khốc, Nam Cao viết thành truyện năm 1941 đánh dấu sự thành công trong sự nghiệp của ông.

Đầu tiên tác phẩm có tên là “Cái lò gạch cũ” sau được in thành sách nhà xuất bản đổi thành Đôi lứa xứng đôi. Sau này tác giả đặt lại tên truyệnChí Phèo”. Lấy tên nhân vật chính đặt tiêu đề cho tác phẩm vừa làm nổi bật chủ đề, vừa thể hiện cốt truyện.

2. Giải thích bi kịch

Bi kịch là sự mâu thuẫn giữa hiện thực đời sống và khát vọng cá nhân. Hiện thực đời sống không đủ điều kiện để cá nhân thực hiện được khát vọng của mình dẫn đến cá nhân rơi vào hoàn cảnh bi đát. Trong văn học Việt Nam ta đã từng bắt gặp bi kịch tình yêu của Thúy Kiều, bi kịch nghệ thuật của nhà văn Hộ, bi kịch của Vũ Như Tô,… Nhưng bi kịch lạ lùng nhất là bi kịch “Bị cự tuyệt quyền làm người “của Chí Phèo. Khác với các nhà văn hiện thực phê phán đương thời, trong tác phẩm Chí Phèo, Nam Cao không đi sâu miêu tả quá trình đói cơm rách áo, bần cùng khốn khổ… của người nông dân, mặc dù trong thực tế, đó cũng là một hiện thực phổ biến, Nam Cao trăn trở, băn khoăn suy ngẫm nhiều hơn về một hiện thực còn thảm khốc, bức xúc hơn cả đói rét bần cùng, đó là hiện thực về sự tha hóa, một mối đe dọa thảm khốc trong xã hội đương thời; về nhân phẩm bị vùi dập, chà đạp bởi cả một guồng máy thống trị bạo tàn. Vấn đề nhân phẩm, vấn đề quyền con người được đặt ra, chi phối cảm hứng sáng tạo trong nhiều sáng tạo của Nam Cao, trong đó Chí Phèo là tác phẩm thể hiện trực tiếp, tập trung và mãnh liệt hơn cả.

3. Bi kịch cự tuyệt làm người của Chí Phèo

a. Bi kịch ấy ngay từ đầu tác phẩm đã hiện lên qua tiếng chửi của Chí Phèo Chí Phèo xuất hiện lần đầu tiên trước mắt người đọc không phải bằng xương thịt mà là bằng tiếng chửi “Hắn vừa đi vừa chửi”. Đó là hình ảnh vừa quen vừa lạ. Quen vì đó là tiếng chửi của những người say rượu, không thể có nhận thức đúng đắn. Lạ vì hắn chửi mà không có ai chửi nhau với hắn, không ai lấy làm điều. Chí “Chửi trời, chửi đời, chửi cả làng Vũ Đại, chửi cha đứa nào không chửi nhau với hắn, chửi đứa chết mẹ nào đã đẻ ra thân hắn.

Đó là một tiếng chửi vật vã, đau đớn của một thân phận con người ít nhiều nhận thức được bi kịch của chính mình. Tiếng chửi là toàn bộ phản ứng của Chí với cuộc đời bộc lộ tâm trạng phẫn uất, bất mãn khi ý thức được mình bị xã hội gạt ra khỏi thế giới loài người và tiếng chửi của Chí Phèo cũng chẳng có ai đáp lại, không có ai thèm ra điều với hắn, cũng có thể vì sợ, cũng có thể vì chẳng ai coi hắn là người nữa.

Tiếng chửi ấy là tiếng kêu tuyệt vọng của một con người cô đơn cần được giao tiếp dẫu là cách giao tiếp hạ đẳng nhất nhưng người dân Vũ Đại đã quen coi hắn là con quỷ dữ mất rồi…

Cay đắng thay khi đáp lại những uất ức, bất mãn của Chí lại là “Tiếng chó cắn lao xao. Chí đã bị đánh bật ra khỏi cái xã hội loài người. Xã hội mà dù sống trong đó Chí cũng không còn được xem là con người nữa.

Qua tiếng chửi ấy. ta nhận ra bốn thái độ: thái độ hằn học, hận thù của người chửi, thái độ dửng dưng khinh miệt của người nghe, thái độ xót xa, thương cảm của nhà văn và thái độ tò mò, thương xót của người đọc… Cuộc đời cay đắng của con người đau khổ ấy còn đi đến đâu và như thế. nào sẽ là một ẩn số với người đọc…  

Phân tích bi kịch cự tuyệt làm người của Chí Phèo trong truyện ngắn cùng tên

b. Bi kịch của một đứa con hoang bị bỏ rơi

Chí Phèo đã bị bỏ rơi ngay từ khi mới sinh ra, không cha mẹ, không họ hàng thân thể không gia đình, nhà cửa. Lai lịch của Chí Phèo được mở ra trong câu chuyện là “một đứa trẻ trần truồng và xám ngắt trong một váy đụp để bên cái lò gạch bỏ không sau đó một người đi thả ống lươn đem về trong một buổi sớm tinh sương”.

Hắn được cưu mang bởi những người nghèo khổ, Chí Phèo đi ở hết nhà này đến nhà khác, từ bà góa mù cho đến bác phó cối. Tuổi thơ của anh sống trong bất hạnh, tủi cực “Hết lang thang đi ở cho nhà này lại đi ở cho nhà người khác”. Năm 20 tuổi, Chí Phèo đi làm canh điền cho lí Kiến. Đây quãng thời gian đẹp nhất trong cuộc đời Chí, bởi đó là quãng đời lương thiện, quãng đời tuổi trẻ nhiều mộng đẹp.

Chí giàu lòng tự trọng, biết ghét những gì mà người ta đáng khinh. Bị bà chủ bắt làm việc không chính đáng, Chí vừa làm vừa run, thấy nhục hơn là thích. Chí cũng như bao con người khác, cũng có ước mơ giản dị, yên bình:“Có một gia đình nho nhỏ. Chồng cuốc mướn cày thuê vợ dệt vải. Chúng lại bỏ một con lợn nuôi để làm vốn liếng Khá giả thì mua dăm ba sào ruộng làm”.

Đó chính là một ước mơ lương thiện. Nhưng đau đớn thay, cái xã hội bất lương ấy đã bóp chết cái ước mơ đó của Chí khi mới chỉ trong trứng nước. Một cơn ghen vu vơ của Bá Kiến đã đẩy anh canh điền lương thiện Chí Phèo rơi vào vòng tù tội… Chính nhà tù thực dân đã tiếp tay cho lão già ấy để rồi biến một con người hiền lành, chất phác thành một kẻ lưu manh, một kẻ tội đồ bị xa lánh.

Bất cứ đứa trẻ nào được sinh ra cũng mong ước có một tuổi thơ êm đềm trong vòng tay cha mẹ, người thân, được vui đùa. nô nghịch và có những kỉ niệm thật đẹp.

Thế nhưng dường như cuộc đời của Chí Phèo đã nghiệt ngã ngay từ khi mới sinh ra, không nguồn gốc, không chỗ nương thân. Ngay khi mới nhìn thấy ánh mặt trời, Chí Phèo đã bị bỏ rơi, để rồi bị đặt vào nhiều cám dỗ, sa ngã. Vì thế tương lai của hắn sẽ còn là một chuỗi ngày bi kịch.

XEM THÊM: Chữ người tử tù (phần 2): Phân tích hình tượng nhân vật Huấn Cao

c. Bi kịch tha hóa, lưu manh là con đường dẫn đến bị cự tuyệt quyền làm người

Nhà tù thực dân đã vằm nát bộ mặt người của Chí, phá hủy cả nhân tính đẹp đẽ. Sau bảy, tám năm ra tù Chí không còn là anh canh điền hiền lành như trước nữa. Trước mắt người đọc là một tên lưu manh với một nhân hình gớm ghiếc “Cái đầu thì trọc lóc, cái mặt thì đen mà lại rất cơng cơng, hai mắt gườm gườm trông gớm chết…cái ngực phanh, đầy những nét chạm trổ rồng phượng với một ông tướng cầm chùy, cả hai cánh tay cũng thế”. Đến cả nhân tính cũng bị xã hội tàn hại.

Giờ đây là Chí Phèo trong những cơn say triền miên, với những tội ác không dung thứ khi hắn bỗng dưng trở thành tay sai đắc lực cho lão cáo già Bá Kiến, quay ngược lại lợi ích của người dân Vũ Đại, đối lập với nhân dân lao động cần lao. Từ một người nông dân hiền lành, lương thiện Chí trở thành thằng lưu manh”Con quỷ dữ của làng Vũ Đại”. Đáng buồn thay, mới ngày nào chính dân làng Vũ Đại nuôi Chí lớn trong vòng tay đùm bọc vậy mà nay Chí đã quay lưng lại với cái nơi mà hắn được yêu thương và chở che.

Từ đây, hắn sống bằng rượu và máu và nước mắt của biết bao nhiêu người dân lương thiện: “Hắn đã đập nát biết bao nhiêu cảnh yên vui, làm chảy máu và nước mắt của biết bao nhiêu người dân lương thiện. Hắn làm những việc ấy trong lúc say ăn trong lúc say, ngủ trong lúc say, thức dậy vẫn còn say… đập đầu, rạch mặt, giết người trong lúc say để rồi say nữa say vô tận.

Chưa bao giờ hắn tỉnh để thấy mình tồn tại trên đời bởi những “Cơn say của hắn tràn từ cơn này sang cơn khác thành những cơn dài mênh mang”. Nam Cao đã cho người đọc thấy một thực tế đau lòng về cuộc sống của nhân dân ta trước cách mạng.

Đó chính là cuộc sống bị bóp nghẹt ước mơ và khát vọng, người nông dân bần cùng hóa dẫn đến lưu manh hóa. Một cuộc sống tối tăm không ánh sáng. Nhà văn xót thương cho nhân vật, cay đắng và đau đớn cùng nhân vật. Đây chính là vẻ đẹp của tấm lòng nhân đạo và yêu thương của nhà văn dành cho những kiếp người như Chí Phèo.

Phân tích bi kịch cự tuyệt làm người của Chí Phèo trong truyện ngắn cùng tên

d. Gặp Thị Nở và khao khát hoàn lương Nam Cao không trách giận Chí Phèo, ngòi bút của ông dành cho nhân vật vẫn nồng nàn yêu thương. Ông phát hiện trong chiều sâu của nhân vật bản tính tốt đẹp, chỉ cần chút tình thương chạm khẽ vào là có thể sống dậy mạnh mẽ, tha thiết. Sự xuất hiện của nhân vật Thị Nở trong tác phẩm có một ý nghĩa thật sâu sắc.

Con người xấu đến “Ma chê, quỷ hờn”, kỳ diệu thay, lại là nguồn ánh sáng duy nhất đưa vào chốn tối tăm của tâm hồn Chí Phèo để thức tỉnh, gợi dậy bản tính người nơi Chí Phèo, thắp sáng một trái tim đã ngủ mê qua bao ngày tháng bị vùi dập, hắt hủi. Chính cuộc tình ngắn ngủi với Thị Nở trong một đêm trăng đã vô tình thắp lên ngọn lửa cuộc sống trong Chí. Có nhà phê bình rằng Thị Nở là một sứ giả mà Nam Cao phái đến để thức tỉnh Chí Phèo. Đó là sứ giả của tình yêu thương và tấm lòng nhân đạo sâu sắc của nhà văn. Nhưng có lẽ cần phải nói thêm, Thị Nở không chỉ là vài trò sứ giả của lòng nhân đọa mà Thị còn là một “Thiên sứ” của tình yêu.

Vị thiên sứ này không có đôi cánh thiên thần nhưng có đôi tay đầy ắp tình người. Thiên sứ ấy như một ngọn gió, một ngọn lửa thổi vào tâm hồn của Chí. Nếu là gió, gió sẽ thổi bay lớp tro tàn đang vây quanh anh. Nếu là lửa, lửa sẽ đốt cháy lớp vỏ quỷ dữ để trả về cho anh một con người. Lần đầu tiên trong cuộc đời Chí tỉnh dậy. “Chợt nhận ra nơi căn lều ẩm thấp là ánh nắng ngoài kia rực rỡ biết bao, nghe được tiếng chim hót ngoài kia vui vẻ quá, tiếng anh thuyền chài gõ mái chèo đuổi cá trên sông, tiếng lạo xạo của người đi chợ bán vải về…”

Những âm thanh ấy ngày nào chả có nhưng hôm nay Chí mới nghe thấy. Chao ôi là buồn! Âm thanh cuộc sống ấy khiến ta liên tưởng đến tiếng sáo của đêm tình mùa xuân trong truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ. Tiếng sáo đã lay động tiềm thức xa xôi của Mi, đánh thức tâm hồn Mị, thức dậy cả một quá khứ tươi đẹp. Đó chính là những chi tiết nghệ thuật đặc sắc làm nên chất thơ cho tác phẩm.

Chính cuộc sống đã lay động trong tiềm thức xa xôi của Chí. Nó như cơn gió thổi tung đám tro tàn nguội lạnh, như từng giọt nước nhỏ vào tâm hồn sỏi đá, cằn khô làm tan đi giá bằng tâm hồn. Hơn hết, nó làm sống dậy ước mơ thời trai trẻ, có một gia đình nho nhỏ…Rồi cũng trong cái giây phút tỉnh táo ấy, Chí Phèo đã cô đơn hơn bao giờ hết: “Nhìn phía trước người thân chẳng có – ngó sau lưng quá khứ rợn ghê người. Hắn như đã thấy tuổi già của hắn, đói rét, ốm đau và cô độc – cái này còn sợ hơn đói rét và ốm đau”.

Phải chăng Chí đang hối hận và ăn năn những việc mà mình đã làm? Chẳng biết có phải hay không mà chỉ thấy lòng buồn man mác. Và nếu như Thị Nở không qua, chắc là hắn đã khóc được mất.

Phân tích bi kịch cự tuyệt làm người của Chí Phèo trong truyện ngắn cùng tên

  Và rồi chính bàn tay ân cần của Thị Nở cùng với tình yêu của Thị đã khơi dậy trong Chí phần người. Bát cháo hành chính là liều thuốc giải độc góp phần thức tỉnh phần người trong con quỷ dữ. Kỳ diệu làm sao bát cháo hành Thị Nở. một liều tiên dược vừa giải cảm vừa giải độc.  

Cháo hành đã tẩy ố đi men rượu, gột rửa những tội lỗi con người. Cháo hành có hương vị đặc biệt quá, những kẻ vô nhân tính như cha con nhà Bá Kiến làm sao mà biết được. Đó là hương vị của tình người, hương vị của tình yêu.  

Khi mà cả làng Vũ Đại không chấp nhận Chí là con người thì Thị Nở đã dang rộng vòng tay để đón lấy anh. Và bát cháo hành kia vô hình chung đã sưởi ấm cho trái tim nguội lạnh và mở đầu cho một mối thiên duyên. Nhìn bát cháo bốc khói mà lòng Chí Phèo xao xuyến bâng khuâng. Hắn ăn cháo hành và lấy làm mãn nguyện vì vị ngon của nó.  

Chí Phèo quen sống với một kiểu định nghĩa: Muốn Có cái ăn hắn phải  kêu làng, phải rạch mặt ăn vạ, hắn phải thực sự hóa thân vào con quỷ dữ… Mỗi miếng ăn hàng ngày của Chí đều có máu và nước mắt của những người dân lương thiện làng Vũ Đại.   Nhưng hôm nay cái triết lý sống ấy của Chí dường như đã thay đổi, những gì hắn đã từng có giờ phản bội lại hắn trong hương cháo hành của người đàn bà xấu như ma chê quỷ hờn kia. Hắn hiểu rằng người ta sống với nhau không chỉ bằng tội ác mà còn mang cả tình thương yêu nữa.  

Mắt hắn lần đầu tiên ươn ướt. Hơi cháo hành phảng phất phục sinh phần người trong Chí… Hắn có thể sống với người ta bằng tình yêu, hắn nhen nhóm một mơ ước về cuộc sống bình dị… Hương cháo là hương cuộc đời, hương tình yêu mà từ trước đến giờ chưa ai cho Chí cả… Bát cháo hành giản dị nhưng phần nào  giúp Chí Phèo đứng lại ở bờ của phần người.  

Nhìn Thị hắn như muốn khóc, hắn cảm động và ngay trong chốc lát “Hắn cảm thấy lòng thành trẻ con, hắn muốn làm nũng với thị như làm nũng với mẹ… Đó là giây phút mà hắn là người nhất. Đã hai lần chính Thị Nở đã phải thốt lên: “Ôi sao mà hắn hiền rồi những lúc tỉnh táo hắn cười nghe thật hiền”. Cảm giác được yêu thương và chở đã làm chí trỗi dậy một tình yêu cuộc sống. Phần quỷ tạm thời rũ bỏ.  

Đó là giây phút “Chí thèm lương thiện và khát khao làm hòa với mọi người. Rồi đến khát vọng hạnh phúc với Thị Nở “Giá cứ như thế này mãi thì thích nhỉ?… Hay là mình sang đây ở với tớ một nhà cho vui. Lời của Chí Phèo – nghe sao mà hiền lành, có chút gì ngờ nghệch, hồn nhiên mà lại rất đỗi chân thành. Lời cầu hôn không tình tứ như bao kẻ khác nhưng lại khiến cho trái tim ta nghẹn ngào thương cảm.  

Từ một con quỷ dữ, nhờ Thị Nở, Chí thực sự được trở lại làm người, với tất cả những năng lực vốn có. Một chút tình thương, dù là tình thương của một con người dở hơi, thô kệch, xấu xí cũng đủ làm sống dậy cả một bản tính người nơi Chí. Thế mới biết sức cảm hóa của tình thương kỳ diệu biết nhường nào!

XEM THÊM: Hai Đứa Trẻ (phần 2): Phân tích giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo của truyện ngắn “Hai đứa trẻ”

e. Đỉnh điểm của bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người

Bi kịch và đau đớn thay, rốt cuộc thì ngay Thị Nở cũng không thể gắn bó với Chí Phèo. Lời nói của bà cô Thị Nở như một gáo nước lạnh tạt thẳng vào mặt Chí Phèo làm tắt ngúm ngọn lửa lòng vừa được nhen lên trong Chí “Ai lại đâm đầu đi lấy một thằng không cha không mẹ như cái thằng Chí Phèo”.

Cánh cửa cuộc đời vừa hé mở thì cũng ngay lập tức đóng sầm lại trước mắt của anh. Đó chính là bi kịch của một con người chết trên ngưỡng cửa trở về với cuộc sống lương thiện. Chút hạnh phúc nhỏ nhoi cuối cùng vẫn không đến được với Chí Phèo. Và thật là khắc nghiệt, khi bản tính người nơi Chí Phèo trỗi dậy, cũng là lúc Chí hiểu rằng mình không còn trở về với lương thiện được nữa.

Cánh cửa trở về với xã hội lương thiện, xã hội loài người vừa mở ra thì cũng là lúc đóng sầm lại ngay trước mắt Chí Phèo. Thị Nở như tia chớp rạch ngang bầu trời đêm đen của Chí Phèo vừa đủ để dội lên một niềm cảm thông cũng là lúc nó tắt ngấm giữa đêm đen cuộc đời Chí. Nói xa hơn, cái xã hội thực dân nửa phong kiến đó đã cướp đi của Chí quyền làm người và vĩnh viễn không trả lại. Nó đã tiêu hủy và bẻ gãy chiếc cầu nối Chí với cuộc đời.

Chí Phèo tìm đến rượu nhưng rượu không phải bao giờ cũng làm cho người ta say. Một khi rượu không còn đủ sức để làm lu mờ lí trí con người thì nó sẽ quay trở lại thức tỉnh lí trí ấy. Càng uống Chí càng tỉnh, càng tỉnh càng nhận ra bi kịch cuộc đời mình.

Chí đau đớn khi “Nghe thoang thoảng mùi cháo hành” rồi Chí ôm mặt khóc rưng rức. Phẫn uất, Chí xách dao đi, định đến nhà Thị Nở. Trong ý định, Chí định đến để đâm chết con khom già, con đĩ Nở, nhưng sự thức tỉnh ý thức về thân phận và bi kịch đã đẩy chệch hướng đi của Chí dẫn đến thẳng nhà Bá Kiến.

Hơn ai hết lúc này Chí hiểu ra rằng kẻ đã làm cho mình phải đội lốt quỷ, kẻ đã làm mình ra nông nỗi khốn cùng này chính là Bá Kiến. Anh càng thấm thía tội ác kẻ đã cướp đi quyền làm người, cướp đi cả bộ mặt và linh hồn của mình. Chí Phèo đến nhà Bá Kiến với tư cách là một nô lệ thức tỉnh, đòi quyền làm người:

4.Tao muốn làm người lương thiện? Ai cho tao lương thiện? .

Đó là những câu hỏi vút lên đầy cay đắng và không lời giải đáp. Câu hỏi chất chứa nỗi đau của một con người thấm thía được nỗi đau khôn cùng của bi kịch cá nhân. Câu hỏi đánh thẳng vào bộ mặt của xã hội bất lương. Câu hỏi như cứa vào tâm can người đọc về một thân phận con người đây đắng cay trong xã hội cũ.

Lương thiện có ngay trong mỗi con người là di sản tinh thần của mỗi người. Tại sao phải đi đòi lương thiện? À, thì ra Chí đã bị cái xã hội vô nhân tính ấy cướp mất. Khốn nạn thay cho Chí, ngay cả cái quyền được làm một con người cũng bị xã hội người ăn thịt người ấy bóp nát.

Và Chí Phèo cũng đã tự kết liễu cuộc đời mình sau khi kết kiều tên cáo già Bá Kiến. Cái chết bi thảm của Chí Phèo là lời kết tội đanh thép cái xã hội, là tiếng kêu cứu về quyền làm người, cũng là tiếng gọi thảm thiết cấp bách của nhà văn.

Phân tích bi kịch cự tuyệt làm người của Chí Phèo trong truyện ngắn cùng tên

5. Đánh giá

a. Nội dung Tác phẩm “Chí Phèo” thông qua tấn bi kịch cự tuyệt quyền làm người của nhân vật chính, nhà văn đã mang đến những giá trị nhân văn cao đẹp. Tác phẩm đã lên án, tố cáo tội ác của chế độ thực dân nửa phong kiến đã đàn áp và bóc lột nhân dân lao động. Qua đó nhà văn đồng cảm với những nỗi đau khổ bị đày đọa và lăng nhục của người nông dân. Đồng thời Nam Cao cũng kịp thời phát hiện và trân trọng trước vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật và khát khao thay đổi thực tại để mang đến cuộc sống tốt đẹp hơn.

b. Nghệ thuật Truyện ngắn “Chí Phèo” ghi nhận thành công của Nam Cao trước hết trong việc xây dựng nhân vật, tiêu biểu là Chí Phèo, Có cá tính độc đáo và có tính khái quát, tiêu biểu, gây ấn tượng mạnh cho người đọc. Kết cấu truyện mới mẻ vòng tròn dường như khá tự do thoải mái trong việc trần thuật. Bên cạnh đó, truyện thành công bởi ngôn ngữ sống động, có sự đan xen giữa lời nhân vật và lời người kể chuyện, cũng có khi vừa là lời nhân vật vừa là lời trần thuật. Với những đặc sắc nghệ thuật nhất định, truyện ngắn “Chí Phèo” đúng là một phát hiện về nội dung, một khám phá về nghệ thuật, xứng đáng là một kiệt tác như nhiều người đã khẳng định.

C. Kết bài

Chí Phèo là một kiệt tác bất hủ bởi nó chứa đựng trong đó là tư tưởng, tình cảm lớn mang giá trị nhân đạo và hiện thực sâu sắc mà người đọc rút ra từ những trang sách giàu tính nghệ thuật của Nam Cao Tác phẩm ấy mãi mãi bất tử, mãi mãi có khả năng đánh thức trí tuệ và khơi dậy những tình cảm tốt đẹp trong tâm hồn người đọc mọi thời đại.

Có một nhà thơ đã từng viết rằng: “Nam Cao mất và Chí Phèo vẫn sống – Nào có dài chi một kiếp người – Nhà văn chết, nhân vật từ trang sách – Vẫn ngày ngày lăn lóc giữa trần ai.”

Gửi phản hồi