Bình Giảng Tuyên Ngôn Độc Lập của Hồ Chí Minh

0
158

Bình Giảng Tuyên Ngôn Độc Lập

Đề bài: “Bàn về tác phẩm Tuyên ngôn Độc lập của Hồ Chí Minh có ý kiến cho rằng: “Tác phẩm kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất chính luận với chất vấn chương tháng tư tưởng lớn lao thời đại mới. Có ý kiến khác lại cho rằng: “Đây là tác phẩm nổi tiếp tự nhiên các áng  thiên cổ hùng Văn trong quá khứ”. Từ việc phân tích hệ thống lập luận của tác phẩm, anh (chị) hãy bình luận những ý kiến trên Vận dụng sơ đồ tư duy làm bài hoàn chỉnh

XEM LẠI: Tuyên Ngôn Độc Lập: Soạn văn ngắn gọn bằng sơ đồ tư duy, khắc ghi kiến thức

A/ Mở bài:

Âm hưởng của cung đàn có thể dư âm mãi trong lòng thính giả bởi người nghệ sĩ tài hoa. Một lời nói có thể trường tồn cùng lịch sử. Cũng như có những áng thiên cổ hùng vẫn không bị chôn vùi trong quá khứ. Bài thơ thần của Lý Thường Kiệt hào sảng vàng bên dòng sông Như Nguyệt trong cuộc chiến chống quân Tống. Sau khi đuổi giặc Minh, Nguyễn Trãi tự hào thay mặt Lê Lợi viết bản Bình Ngô đại cáo.  

Và sau hơn 80 năm quật khởi chống lại ách xiềng xích nô lệ của thực dân Pháp, khúc khải hoàn ca Tuyên ngôn Độc lập lại một lần nữa vang lên trên quảng trường Ba Đình lịch sử: nước Việt Nam có quyền được hưởng tự do độc lập và sự thật đã trở thành một nước tự do độc lập.   Có ý kiến cho rằng “Tác phẩm có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất chính luận với chất văn chương mang tư tưởng lớn lao của thời đại mới. Có ý kiến khác lại cho rằng: “Đây là tác phẩm nối tiếp tự nhiên các áng thiên cổ hùng văn trong quá khứ” Cả hai nhận định trên đều đã góp phần làm nổi bật giá trị của bản tuyên ngôn bất hủ này.  

B/ Thân bài:

1. Giới thiệu tác giả tác phẩm.

 Tuyên ngôn Độc lập ra đời trong hoàn cảnh trên thế giới chiến tranh thế giới thứ hai sắp kết thúc (Hồng quân Liên Xô tấn công vào sào huyệt của phát xít Đức, Nhật đầu hàng Đồng minh).Trong nước: Cả nước nổi dậy giành chính quyền thắng lợi.   Ngày 26 tháng 8 năm 1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh từ chiến khu Việt Bắc về tới Hà Nội, soạn thảo bản Tuyên ngôn Độc lập. Ngày 2 tháng 9 năm 1945: Hồ Chí Minh thay mặt chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân Chủ cộng hòa đọc bản Tuyên ngôn Độc lập tại quảng trường Ba Đình, Hà Nội:   Hôm nay sáng mùng hai tháng chínThủ đô hoa vàng nắng Ba Đình Muôn triệu con tim chờ, chim cũng nín Bỗng vang lên tiếng hát ân tình (Tố Hữu)

Bình Giảng Tuyên Ngôn Độc Lập của Hồ Chí Minh

Tuyên ngôn Độc lập viết để hướng tới đồng bào cả nước những người hơn 80 năm qua rên xiết dưới ách xâm lược của thực dân Pháp và phát xít Nhật. Đối tượng hướng tới của bài Tuyên ngôn còn là nhân dân trên toàn thế giới. Phần cuối của tác phẩm, Bác đã viết:“vì những lẽ trên, chúng tôi, Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trịnh trọng  tuyên bố với thế giới rằng:” Hoàn cảnh ra đời của bản Tuyên ngôn còn giúp chúng ta nhận thấy đối tượng hướng tới của tác phẩm còn là các thế lực thù địch và cơ hội quốc tế đang nuôi dã tâm tái nô dịch đất nước ta đặc biệt là thực dân Pháp và đế quốc Mĩ. 

2. Giải thích ý kiến:

Trong một dung lượng câu chữ nhỏ hẹp của bản Tuyên ngôn, người đọc bắt gặp những tư tưởng lớn lao của dân tộc và thời đại. Tuyên ngôn Độc lập trước hết đã tiếp nối và phát huy truyền thống yêu nước và tự hào của văn học Việt Nam, là nơi kết đọng tình yêu đất nước của con người Việt Nam đầu thế kỉ XX.  

Tuyên ngôn Còn có sự gặp gỡ về tư tưởng với các áng thiên cổ hùng văn trong lịch sử ở thái độ căm ghét tối tác của kẻ thù xâm lược nỗi đau đó khi giang sơn gấm vóc bị giày xéo và hơn hết là khát vọng hòa bình cháy bỏng.  

Độc lập dân tộc, khát vọng hòa bình không chỉ là khát vọng của nhân dân Việt Nam mà còn là giấc mơ vĩnh hằng và đẹp đẽ của toàn nhân loại đầu thế kỉ XX. Tư tưởng ấy khát vọng ấy đã được Hồ Chí Minh thể hiện thật cảm động trong bản Tuyên ngôn Độc Lập.   Độc lập dân tộc điều tưởng như là lẽ đương nhiên mà tạo hóa đã ban tặng cho mỗi người, mỗi dân tộc lập trở thành khát vọng của nhân loại. Từ quyền con người Hồ Chí Minh đã nâng lên thành quyền  dân tộc và đặt ra cho mỗi dân tộc đặc biệt là các dân tộc bị áp bức khắp Á – Phi – Mĩ Latinh nhu cầu cần phải đấu tranh để giành độc lập.  

Tư tưởng mang vóc dáng của thời đại ấy được thể hiện trong câu văn thật khiêm nhường:”Suy rộng ra câu ấy có nghĩa là tất cả các dân tộc trên thế giới, sinh ra đều bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”

3. Phân tích và chứng minh:

3.1. Tuyên ngôn Độc lập mang tư tưởng lớn lao của thời đại:

Trước hết, đây là một áng văn chính luận mẫu mực. Sức thuyết phục mạnh mẽ được toát ra từ lập luận chặt chẽ, lí lẽ đanh thép đến bằng chứng không ai chối cãi được. Khép lại lời mở đầu Hồ Chí Minh khẳng định: “Đó là những lẽ phải không thể nào chối cãi được”. Hồ Chí Minh đã nhắc đến lẽ phải ở đây không có gì khác chính là quyền bình đẳng, quyền sống tự do, sung sướng hạnh phúc của mỗi một cá nhân, một dân tộc. Chân lí ấy”không ai chối cãi được” vì nó đã rành rành ghi lại trong các bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ: “Tất cả mọi người đều sinh và có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền đây, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.

Bản luyện ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi. Đây là những bản tuyên ngôn từng vang lên sau những cuộc cách mạng lớn trong lịch sử, gắn liền với niềm tự hào của loài người tiến bộ. Nói lẽ phải tức là nói đến chân lí khách quan, đúng đắn, thuyết phục được mọi người và được người ta mặc nhiên thừa nhận.

Có như vậy mới bác bỏ được mọi lời “chối cãi” đi ngược với nó.  Bác đã nêu một chân lý có tính khái quát, và khéo léo tỏ ra tôn trọng những tuyên ngôn bất hủ của cha ông kẻ xâm lược vì những điều được nêu là chân lí của nhân loại. Cách lập luận lại vừa kiên quyết: Dùng lập luận gậy ông đập lưng ông, lấy chính lí lẽ thiêng liêng của tổ tiên chúng để phê phán và ngăn chặn âm mưu tái xâm lược của chúng. Nếu Pháp và Mĩ cố tình đi ngược lại tức là họ đã phủ nhận chính tổ tiên của mình, làm vấy bùn lên lá cờ nhân đạo đã từng là niềm tự hào của cha ông họ.

Đồng thời Người ngầm gửi gắm lòng tự hào tự tôn dân tộc đặt ba cuộc cách mạng, ba bản tuyên ngôn, ba dân tộc ngang hàng nhau. Từ quyền bình đẳng, tự do, mưu cầu hạnh phúc của con người (tuyên ngôn của Mỹ và Pháp) Bác suy rộng ra, nâng lên thành quyền bình đẳng, tự do của các dân tộc trên thế giới: Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do. Xã hội Âu Mĩ đầu thế kỉ XX luôn bị bao trùm bởi chủ nghĩa cá nhân.  

Những gì tuyên ngôn của họ đưa ra đều đáp ứng cho nhu cầu thuộc về cá nhân, về cái tôi của mọi người. Chẳng có khái niệm dân tộc xuất hiện đúng hơn là không có bóng dáng của lập trường dân tộc. Thực chất sự bình đẳng bác ái được nêu ra kia chỉ đối với người da trắng, một nhóm người của xã hội ấy mà thôi.

Bởi thế đi từ cái tôi cá nhân của xã hội tư bản đến chủ nghĩa dân tộc là cả một vấn đề. Đó là suy luận hợp lí, sáng tạo, là đóng góp quan trọng nhất trong tư tưởng giải phóng dân tộc của Bác, là phát súng lệnh cho bão táp cách mạng làm sụp đổ chủ nghĩa thực dân giành độc lập ở các nước thuộc địa Á, Phi, Mĩ Latinh. 

Bình Giảng Tuyên Ngôn Độc Lập của Hồ Chí Minh

Chất tư tưởng của cách mạng là kết quả của một quá trình tiếp thu nhận thức của thời đại trong hành trình tìm đường cứu nước từ năm 1911. Nói theo Chế Lan Viên:“Nó tiếp tục bản yêu sách của nhân dân Việt Nam năm 1919 của ông Nguyễn Ái Quốc, bản yêu sách có tên là Quyền của các dân tộc”. Đó chính là chất mới, chất thời đại của Hồ Chí Minh. Nó là sự kiện nóng hổi của thế kỉ XX chứ không phải ở thế kỉ XVIII, XIV trước đó.3.2. Tác phẩm tiếp nối tự nhiên các áng thiên cổ hùng văn trong quá khứ.

Thế kỉ XV, trong Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi đã thể hiện niềm tự hào dân tộc khi đặt ngang các triều đại của Việt Nam bên cạnh các triều đại đế vương Trung Quốc: Từ Triều, Đình, Lý, Trần bao đời gây nền độc lập Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đến một phương. Chân lí nghìn đời về sự độc lập cũng được khẳng định một cách triệt để trong bài thơ thần của Lý Thường Kiệt:   Nam quốc sơn hà Nam đế CưTiệt nhiên định phận tại thiên thư Xét về hoàn cảnh ra đời, áng văn nào cũng là một khúc khải hoàn cả, ghi lại những thời điểm trọng đại đối với vận mệnh của đất nước. Hồ Chí Minh đã tiếp nối truyền thống của một dân tộc anh hùng. Truyền thống ấy đi từ lòng dân tộc, được những người con ưu tú nhất đại diện cho dân tộc nói về dân tộc mình.

Ta nhớ lại lời của Lý Thường Kiệt viết trong Lộ Bố: “Nay bản chức vâng mệnh quốc vương, chỉ đường tiến quân lên Bắc, muốn dẹp làn sóng yêu nghiệt, chỉ có ý phân biệt quốc thổ, không phân biệt chúng dân. Ta nay ra quân cốt để cứu vớt muôn dân khỏi nơi chìm đắm”. Còn Nguyễn Trãi trong Bình Ngô đại cáo thì nói “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân. Bản Tuyên ngôn của Bác đã lấy tư tưởng dân tộc làm nền tảng để tiến xa hơn thế. Có tới tám lần Bác viết “dân ta”, ba lần nói tới “đồng bào ta hầu như lúc nào cũng đã cập đến “nước ta, dân tộc ta”.

Điều đó cũng dễ hiểu bởi vì Bác là thành viên trong dân tộc ấy Bác cùng sống, cùng gian khổ với người dân nên Bác hiểu rõ hơn ai hết, như người cha luôn thấu hiểu những đứa con của mình, Trong Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi đã cụ thể hóa tội ác của giặc Minh: Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn Vùi Con đỏ xuống hầm tai vạDối trời lừa dân đủ muôn nghìn kế.

Thấm đẫm tinh thần dân tộc, Tuyên ngôn Độc lập của Hồ Chí Minh cũng không khỏi xót xa trước những đau thương mất mát của dân ta và căm phẫn trước tội ác của kẻ thù xâm lược. Hồ Chí Minh đã vạch rõ những tội ác của thực dân Pháp reo rắc trên đất nước ta suốt hơn 80 năm qua: “Thế mà hơn 80 năm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta. Người phủ nhận hoàn toàn thái độ của Pháp, đã phản bội lại lời lẽ của cha ông.

Hai chữ “Thế mà” làm nổi bật quan hệ tương phản giữa lí lẽ tốt đẹp và những hành động tội ác trắng trợn.  Pháp kể công”bảo hộ, bản Tuyên ngôn lên án chúng:”Mùa thu năm 1940, phát xít Nhật đến xâm lăng Đông Dương để mở thêm căn cứ đánh Đồng minh, thì bọn thực dân Pháp quỳ gối đầu hàng, mở cửa nước ta rước Nhật” “Ngày 9 tháng 3 năm nay, Nhật tước khí giới của quân đội Pháp. Bọn thực dân Pháp hoặc là bỏ chạy, hoặc là đầu hàng. Pháp đã bán nước ta hai lần cho Nhật”. Đảng bảo hộ đó còn quỳ gối mở cửa rước Nhật vào nước ta. Còn đâu một nước mẹ Đại Pháp bảo hộ, chỉ còn một tên bại trận ti tiện và đớn hèn.  Hồ Chí Minh đã kết tội thực dân Pháp một cách toàn diện và đanh thép, những dẫn chứng người đưa ra vừa khái quát vừa cụ thể. Bóng đen của thực dân đã bao trùm lên mọi lĩnh vực của đời sống dân tộc.

Để tố cáo tội ác của Pháp, Hồ Chí Minh dùng nhiều từ ngữ có tính biểu cảm cao như: dã man, thẳng tay, bể máu, ngu dân, xương tủy, cướp không, tàn nhẫn để tăng cường hiệu quả diễn đạt và sức tố cáo cho bài văn nghị luận. Đồng thời Người còn sử dụng các biện pháp nghệ thuật tương phản, liệt kê. Mỗi ý liệt kê lại được tách ra thành những đoạn văn riêng biệt.

Để tô đậm ấn tượng, có nhiều đoạn văn chỉ bao gồm một câu. Bên cạnh đó là những đoạn văn dài ghi mốc thời gian cụ thể theo diễn biến sự kiện khiến cho người đọc có cảm tưởng như đang lần giở những trang hồ sơ vụ án mà ở các trang ấy mỗi sự kiện đều được kết luận, luận tội rõ ràng. Pháp khẳng định Đông Dương là thuộc địa của chúng, Tuyên ngôn nói rõ: “Sự thật là từ mùa thu năm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của Nhật, chứ không phải thuộc địa của Pháp nữa” Sự thật là dân ta lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp”

Đông Dương thuộc địa của Nhật, ta giành lại chính quyền từ tay Nhật chứ không phải từ Pháp, Pháp nhân danh Đồng minh tuyên bố Đồng minh đã thắng Nhật, chúng có quyền lấy lại Đông Dương, Tuyên ngôn vạch rõ: Chính Pháp là kẻ phản bội lại Đồng minh, hai lần dâng Đông Dương cho Nhật. Trước ngày 9 tháng 3, biết bao lần Việt Minh đã kêu gọi người Pháp liên minh để chống Nhật. Bọn thực dân Pháp đã không đáp ứng lại thẳng tay khủng bố Việt Minh hơn nữa. Thật chỉ đến khi thua chạy, chúng còn nhẫn tâm giết nốt số đông tù chính trị ở Yên Bái và Cao Bằng. 

Bình Giảng Tuyên Ngôn Độc Lập của Hồ Chí Minh

Người đã bác bỏ luận điệu giả dối và lên án tội ác dã man, đê tiện của chúng. “Khi Nhật đầu hàng Đồng minh thì nhân dân cả nước ta đã nổi dậy giành chính quyền, lập nên nước Việt Nam dân Chủ Cộng hòa”. Chỉ có Việt Minh mới thuộc phe Đồng minh vì đứng lên giải phóng dân tộc. Nhân dân ta đã lập nên một nước Việt Nam mới, đó là thành quả của một quá trình đấu tranh bền bỉ của cả dân tộc khiến cho “Pháp chạy, Nhật hàng, Vua Bảo Đại thoái vị”. Từ đó  Người tuyên bố thoát ly hẳn quan hệ với Pháp xóa bỏ hết những hiệp ước mà Pháp ký với nước Việt Nam, thể hiện quyết tâm chống lại mọi âm mưu xâm lược: “Toàn dân Việt Nam, trên dưới một lòng kiên quyết chống lại âm mưu của bọn thực dân Pháp. 

XEM THÊM: Gảy 4 nốt nhạc bạn đã CHINH PHỤC được nghị luận xã hội 200 chữ

Kêu gọi cộng đồng quốc tế Công nhận quyền độc lập tự do của dân tộc Việt Nam: Chúng tôi tin rằng các nước Đồng minh đã công nhận những nguyên tắc dân tộc bình đẳng ở các Hội nghị Tê – hê – răng và Cựu Kim Sơn, quyết không thể không công nhận quyền độc lập của dân Việt Nam. Lời lẽ của Hồ Chí Minh vừa mềm dẻo vừa thắt buộc, vừa kiên quyết, vừa lắng đọng tất cả niềm tự hào dân tộc, ý chí quyết chiến quyết thắng và niềm khao khát tự do của cả một dân tộc yêu chuộng hòa bình.  

Từ đó Người khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa: Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 30 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng minh chống phát xít mấy  năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!” . Bản Tuyên ngôn đã xây dựng hình tượng đất nước, ban đầu là đất nước nhỏ bé với những người dân nô lệ lầm than, bị cùm kẹp giữa xiềng xích của thực dân Pháp và phát xít Nhật: bị chém giết, đàn áp, đầu độc, bị bóc lột đến xơ xác tiêu điều. Hồ Chí Minh đã sử dụng những  tính từ chỉ mức độ tuyệt đối để phác họa lại hình ảnh cả dân tộc đói nghèo trong rơm rạ.

Dòng cảm xúc, tâm tư, tình cảm của Bác Hồ ẩn chứa trong tác phẩm: Tuyên ngôn Độc lập là một trong những niềm xúc động, hạnh phúc lớn lao nhất trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh như có lần Người đã tâm sự.

Phía sau những lập luận chặt chẽ, sắc đá, đanh thép, đầy tính đối thoại, xác định giá trị pháp lý của chủ quyền dân tộc là dòng cảm xúc tình cảm của người viết Tuyên ngôn. Bởi lẽ những lời tuyên bố trang trọng trên Quảng trường Ba Đình lịch sử cho toàn thể dân tộc Việt Nam và nhân dân trên thế giới là kết quả của bao nhiêu máu đã đổ của các chiến sĩ trên chiến trường, trong trại tập trung, trên máy chém, bao nhiêu tính mạng con người đã hi sinh.

Mỗi dòng chữ là chan chứa niềm tự hào khi sánh cách mạng dân tộc với những cuộc cách mạng lớn trên thế giới.  Mỗi dòng chữ là một niềm hạnh phúc vô biên khi đất nước đã được độc lập tự do. Mỗi dòng chữ cũng là những đau đớn, nhức nhối khi nhìn lại bao rên xiết lầm than của nhân dân ta suốt hơn 80 năm dưới ách thống trị của thực dân Pháp và phát xít Nhật. Sức thuyết phục của áng văn chính luận đối với người đọc không chỉ là hệ thống lập luận sắc sảo, mẫu mực của nó mà còn ở tình cảm chan chứa, sâu sắc của tác giả.

Tiếp nối các áng hùng văn trước đó, Tuyên ngôn Độc lập đã đem đến cho người đọc những suy tưởng về cội nguồn của dân tộc và đánh thức lòng đoàn kết của nhân, đánh thức cả nỗi đau dân tộc: “Người đã đói mọi cơn đói ngày xưa/ Người đã chết hai triệu lần năm đói 45 khủng khiếp” (R.Rô- Tri – ghết). Nhà thơ Tố Hữu đã viết về giây phút xúc động thiêng liêng khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập: Người đứng trên đài lặng phút giây Trông đàn con đó Vẫy hai tay Cao Cao vầng trán ngời đôi mắt Độc lập bây giờ mới thấy đây Độc  ập là thành quả của một quá trình nhân dân ta, đất nước ta vụt đứng lên lớn mạnh với vóc dáng và sức sống mãnh liệt. Sức sống dân tộc đã hóa thân thành những tổ chức cách mạng là Việt Minh bền bỉ kiên cường lãnh đạo nhân dân ta đấu tranh giải phóng dân tộc.

Vị thế của đất nước ta lớn mạnh ngang tầm với  các nước trong phe Đồng minh chống phát xít. Tư tưởng dân tộc hòa quyện với tinh thần thời đại làm nên sự trường tồn của chân lí của tuyên ngôn Độc lập.

C/ Kết luận:

Tuyên ngôn Độc lập một lần nữa khẳng định truyền thống yêu nước và lòng căm thù giặc sâu sắc của cả dân tộc. Đó là sự nối tiếp, tiếp nhận những tinh hoa từ cha anh. Để cuối cùng khai sinh ra đất nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa – đất nước được xây dựng từ bao xương máu và từ cả từ tinh thần của dân tộc.

XEM THÊM: Nghị luận xã hội sao? Thật đơn giản với BẢO BỐI này

xem thêm: Chiều Tối (mộ): Soạn văn bằng sơ đồ tư duy hiệu quả, dễ học

XEM THÊM: Chữ người tử tù (phần 1): Phân tích bằng sơ đồ tư duy

Gửi phản hồi