Giáo án ngữ văn lớp 12 cơ bản đầy đủ chi tiết

0
119
Giáo án ngữ văn lớp 12 cơ bản đầy đủ chi tiết
Giáo án ngữ văn lớp 12 cơ bản đầy đủ chi tiết
123doc-giao-an-ngu-van-lop-12-co-ban-day-du-chi-tiet

Giáo án ngữ văn lớp 12 cơ bản đầy đủ chi tiết

Thông Tin Tài Liệu Giáo án ngữ văn lớp 12 cơ bản đầy đủ chi tiết

Nội dung cần đạt

I, Khái quát văn học Việt Nam từ cách mạng tháng tám năm 1945 đến năm 1975 .

 1, Vài nét về hoàn cảnh lịch sử, xã hội,

văn hoá:

– Đó là nền văn học của chế độ mới, vận động và phát triển dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản. Đường lối văn nghệ của Đảng là một trong những nhân tố quan trọng tạo nên một nền văn học thống nhấtvề khuynh hướng tư tưởng, thống nhất về tổ chức và về quan niệm nhà văn kiểu mới : nhà văn- chiến sĩ.

– Trên đất nước ta đã diễn ra nhiều sự kiện lớn lao: cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc vô cùng ác liệt kéo dài suốt ba mươi năm, công cuộc xây dựng cuộc sống mới, con người mới ở miền Bắc… những sự kiện đó đã tác động mạnh mẽ, sâu sắc tới

toàn bộ đời sống vật chất, tinh thần của dân tộc trong đó có văn học nghệ thuật. Văn học giai đoạn này vẫn đạt được những thành tựu to lớn.

 2, Quá trình phát triển và những thành tựu chủ yếu .

a, Chặng đường từ năm 1945 đến năm 1954.

 – Chủ đề bao trùm sáng tác văn học trong những ngày đầu đất nước giành độc lập là ca ngợi tổ quốc và quần chúng cách mạng, kêu gọi tinh thần đoàn kết dân tộc, cổ vũ phong trào Nam tiến, biểu dương những tấm gương vì nước quên mình. Hình ảnh cả dân tộc đang trỗi dậy bộc lộ qua nhiều tác phẩm: Dân khí miền Trung của Hoài Thanh; Huế tháng tám, Vui bất tuyệt của Tố Hữu; Ngọn quốc kì, Hội nghị non sông của Xuân Diệu…

– Cuối năm 1946, văn học tập trung phản ánh cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Nhiều văn nghệ sĩ đã thể hiện lòng yêu nước và tinh thần dân tộc. Đường lối văn nghệ của Đảng với chủ trương “ văn hoá hoá kháng , kháng chiến hoá văn hoá”, “cách mạng hoá tư tưởng, quần chúng hoá sinh hoạt” đã góp phần khơi nguồn cảm hứng sáng tạo của nhà văn và tạo nên những thành tựu đặc sắc của văn học kháng chiến.

Văn học gắn bó sâu sắc với đời sống cách mạng và kháng chiến; hướng tới đại chúng, phản ánh sức mạnh của quần chúng nhân dân; thể hiện niềm tự hào dân tộc và niềm tin vào tương lai tất thắng của cuộc kháng chiến.

Truyện ngắn và kí: kí sự Một lần tới thủ đô, Trận phố Ràng của Trần Đăng; truyện ngắn Đôi mắt và nhật kí ở rừng của Nam Cao, Làng của Kim Lân, Thư nhà của Hồ Phương…

Từ năm 1950, đã bắt đầu xuất hiện những tập truyện, kí khá dày dặn: Vùng mỏ của Võ Huy Tâm, Xung kích của Nguyễn Đình Thi, Con trâu của Nguyễn Văn Bổng, kí sự Cao Lạng của Nguyễn Huy Tưởng (giải thưởng của Hội văn nghệ Việt Nam năm 1951- 1952); Đất nước đứng lên của Nguyên Ngọc, Truyện Tây Bắc của Tô Hoài (1954- 1955).

Thơ những năm kháng chiến chống Pháp đạt được những thành tựu xuất sắc. Ty quê hương đất nước, lòng căm thù giặc, ca ngợi cuộc kháng chiến và con người kháng chiến là những cảm hứng chính: anh vệ quốc quân, bà mẹ chiến sĩ, chị phụ nữ nông thôn, em bé liên lạc được thể hiện chân thực, gợi cảm. Tố Hữu được xem là lá cờ đầu của nền thơ, đại diện cho xu hướng đại chúng hoá, hướng về dân tộc, khai thác những thể thơ truyền thống; Nguyễn Đình Thi tiêu biểu cho hướng tìm tòi, cách tân thơ ca, đưa ra một kiểu thơ hướng nội, tự do không vần hoặc ít vần; Quang Dũng tiêu biểu cho hướng khai thác cảm hứng lãng mạn anh hùng. Tác phẩm tiêu biểu: Cảnh khuya, Rằm tháng giêng của Hồ Chí Minh; Đèo cả của Hữu Loan; Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm; Nhớ của Hồng Nguyên; Bao giờ trở lại của Hoàng Trung Thông; Đồng chí của Chính Hữu; tập thơ Việt Bắc của Tố Hữu.

Một số vở kịch phản ánh hiện thực cách mạng và kháng chiến: Bắc Sơn, Những người ở lại của Nguyễn Huy Tưởng; Chị Hoà của Học Phi.

Lí luận phê bình văn học chưa ↑ nhưng đã có một số sự kiện và tác phẩm có ý nghĩa quan trọng: bản Báo cáo chủ nghĩa Mác và vđề văn hoá VN (1948) của Trường Chinh; hội  nghị tranh luận văn nghệ ở Việt Bắc (1949) có ý nghĩa định hướng cho văn học nt; bài tiểu luận Nhận đường và tập Mấy vấn đề nghệ thuật của Nguyễn Đình Thi; Nói chuyện thơ kháng chiến và Quyền sống con người trong “Truyện Kiều” của Hoài Thanh; giảng văn “Chinh phụ ngâm” của Đặng Thai Mai…

b, Chặng đường từ năm 1955 đến  năm 1964.

  – Chặng đường văn học trong những năm xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất đất nước. Văn học thể hiện  tập trung hình ảnh người lao động, ngợi ca những đổi thay của đất nước và con người trong bước  đầu xây dựng cnxh với cảm hứng lãng mạn, tràn đầy niềm vui và niềm lạc quan tin  tưởng; tình cảm với miền Nam sâu nặng, nỗi đau chia cắt và thể hiện ý chí thống nhất đất nước.

+ Văn xuôi mở rộng đề tài, bao quát được khá nhiều vấn đề và phạm vi của hiện thực đời sống: Đi bước nữa của Nguyễn Thế Phương; Mùa lạc của Nguyễn Khải; Anh

Keng của Nguyễn Kiên; Sống mãi với thủ

đô của Nguyễn Huy Tưởng; Cao điểm cuối  cùng của Hữu Mai; Trước giờ nổ súng của Lê Khâm…

+ Truyện ngắn, tiểu thuyết viết về hiện thực đời sống trước cm với cái nhìn, khả năng phân tích và sức khái quát mới: Vợ nhặt của Kim Lân; Tranh tối tranh sáng của Nguyễn Công Hoan; Mười năm của Tô Hoài; Phất của Bùi Huy Phồn; Vỡ bờ (2 tập) của Nguyễn Đình Thi; Cửa biển (4 tập) của Nguyên Hồng; Sông Đà của Nguyễn Tuân; Bốn năm sau của Nguyễn Huy Tưởng; Mùa lạc của Nguyễn Khải; Cái sân gạch của Đào Vũ…bước đầu khẳng định thành tựu của văn xuôi viết về đề tài xây dựng cnxh trên miền Bắc. Tuy nhiên vẫn còn nhiều tác phẩm thể hiện con người và cuộc sống một cách đơn giản, phẩm chất nt còn non yếu.

+Thơ ↑ mạnh mẽ. Sự hoà hợp giữa cái  riêng và cái chung, nỗi đau chia cắt 2 miền Nam- Bắc…là những nguồn cảm hứng lớn của thơ ca: Tập Gió lộng; Ánh sáng và phù sa của Chế Lan Viên; Riêng chung của Xuân Diệu; Đất nở hoa, bài thơ cuộc đời của Huy Cận; Gửi miền Bắc, Tiếng sóng của Tế Hanh; bài thơ Hắc Hải của Nguyễn Đình Thi; Những cánh buồm của Hoàng Trung Thông; Mồ anh hoa nở của Thanh Hải; Quê hương của Giang Nam.

+ Kịch nói có 1 số tác phẩm: Một đảng viên của Học Phi; Ngọn lửa của Nguyễn Vũ; Quẫn của Lộng Chương; Chị Nhàn và Nổi gió của Hồng Cẩm.miền Bắc, truyện kí cũng ↑ mạnh.

c. Chặng đường từ năm 1965 đến năm 1975

  + Thơ chống Mĩ cứu nước đạt nhiều thành tựu xuất sắc. Thơ ca tập trung thể hiện cuộc ra quân vĩ đại của toàn dân tộc, khám phá sức mạnh của con người VN, nhận thức  và đề cao sứ mệnh lịch sử, tầm vóc và ý nghĩa nhân loại của cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước: Máu và hoa; Hoa ngày thường- Chim báo baox và Những bài thơ đánh giặc của Chế Lan Viên; Hai đợt sóng, Tôi giàu đôi mắt của Xuân Diệu; Dòng sông trong   xanh của Nguyễn Đình Thi; Đầu súng trăng treo của Chính Hữu…

  + Kịch nói cũng có thành tựu đáng ghi nhận: Quê hương VN và Thời tiết ngày mai của Xuân Trình; Đại đội trưởng của tôi của Đào Hồng Cẩm…

+ Nhiều công trình nghiên cứu, lí luận phê bình xuất hiện: Đặng Thai Mai, Hoài Thanh, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Lê Đình Kị…

3, Những đặc điểm cơ bản của vh VN từ năm 1945 đến 1975 .

  a, Nền vh chủ yếu vận động theo hướng cách mạng hoá, gắn bó sâu sắc với vận mệnh chung của đất nước.

– Khuynh hướng chủ đạo của nền vh mới là tư tưởng cách mạng, vh trước hết là một thứ vũ khí phục vụ sự nghiệp cách mạng. Ý thức trách nhiệm công dân của người nghệ sĩ được đề cao. Gắn bó với dân tộc, với nhân dân và đất nước, dùng ngòi bút để phục vụ kháng chiến, cổ vũ chiến đấu là đòi hỏi yêu cầu của thời đại cũng là tình cảm, ý thức tự giác của nhà văn “ Văn nghệ phụng sự  kháng chiến nhưng chính kháng chiến đem đến cho văn nghệ một sức sống mới. Sắt lửa mặt trận đang đúc nên văn nghệ mới của chúng ta”.

– Vh tập trung vào đề tài tổ quốc: bảo vệ đất nước, đấu tranh giải phóng miền Nam thống nhất đất nước. Nhân vật trung tâm là người chiến sĩ trên mặt trận vũ trang và những lực lượng trực tiếp phục vụ chiến trường: dân quân du kích, thanh niên xung phong, dân công hoả tuyến: thơ của Lê Anh Xuân,Tố Hữu, Thu Bồn; truyện ngắncủa Nguyễn Thi, Anh Đức; tiểu thuyết của Anh Đức, Phan Tứ, Nguyễn Minh Châu…

-Chủ nghĩa xh cũng là một đề tài lớn của vhọc. Chủ nghĩa xh là mơ ước, là cái đích hướng tới của toàn dân tộc, là khát vọng hướng tới những tầm cao mới của cuộc sống. Vh đề cao người lao động, ngợi ca phẩm chất tốt đẹp của người lao động: tiểu thuyết của Nguyễn Khải, Đào Vũ, Chu Văn, những bài thơ của Tố Hữu, Huy Cận…

Giáo án ngữ văn lớp 12 cơ bản đầy đủ chi tiết

Gửi phản hồi